Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày 27 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Giàng A Vư;
  2. Ông Tẩn Cao Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hầu Thị D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 26/02/1961, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hầu A, đã chết; mẹ đẻ: Lý Thị D1, đã chết; Chồng: Vàng A L, sinh năm 1956; bị cáo có 04 ngườ con, đều đã chết; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5/2024 đến ngày 28/5/2024 (09 ngày), hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Phùng Chin M, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 26/4/1982, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Mồ Sì San, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12 ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Phùng Vần L1, đã chết; mẹ đẻ: Chẻo P, đã chết; Vợ: Chẻo San M1, sinh năm 1979; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm ma túy, mức phạt là 2.000.000 đồng, hiện Phùng Chin M chưa thi hành hình phạt và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Mạnh H, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ, ngày 19/5/2024, Phùng Chin M từ nhà đi tìm mua Heroine để sử dụng. Màn thấy anh Lò Quyết T, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ C, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu, đang tập thể dục ở gần đó, do có quen biết với anh T nên M đến hỏi mượn chiếc xe mô tô Honda Blade, biển kiểm soát: 25B1-243.24, của anh T để đi chợ, anh T đồng ý. Màn điều khiển xe đi đến bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, Màn hỏi thăm thì được một người không rõ lai lịch chỉ cho M đến nhà Hầu Thị D để mua Heroine. Màn đến gặp D hỏi mua Heorine nhưng D nói không có, M đưa cho D số tiền 900.000 đồng bảo D mua hộ Heroine với số tiền 800.000 đồng và M trả công cho D hết 100.000 đồng. D nhận tiền của M rồi để riêng số tiền 100.000 đồng mang cất đi và đi mua được 01 gói Heroine hết 800.000 đồng mang về đưa cho M. Hồi 07 giờ 00 phút, ngày 19/5/2024, tại đường thuộc khu vực bản P, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, khi M đang trên đường đi về thì bị tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an xã P làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Qua lời khai của màn, cơ quan Điều tra làm việc với Hầu Thị D, D đã khai nhận D là người đã mua H1 cho M để nhận 100.000 đồng tiền công.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: Thu của Phùng Chin M: 01 gói chất ma túy, loại chất bột màu trắng, được gói bằng mảnh nilon màu hồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát: 25B1-243.24, kèm theo đăng ký xe. Thu của Hầu Thị D: Số tiền 100.000 đồng.

Bản Kết luận giám định số: 34/KL-GĐVV, ngày 15/9/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Khối lượng chất bột, màu trắng thu giữ của Phùng Chin M là 1,024 gam.

Bản Kết luận giám định số: 584/KL-KTHS, ngày 20/5//2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).

Bản Kết luận giám định số: 585/KL-KTHS, ngày 21/5//2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số: 68/CT-VKS, ngày 26/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Hầu Thị D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự, bị cáo Phùng Chin M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hầu Thị D mức hình phạt từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Chin M mức hình phạt từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu của bị cáo Hầu Thị D. Tịch thu tiêu hủy: 0,977 gam Heroine còn lại sau giám định, mảnh nilon màu hồng, vỏ gói, vỏ niêm phong. Đối với 0,047 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo M đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định và 01 chiếc xe mô tô đã được trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Tranh luận với quan điểm của người bào chữa về mức hình phạt đối với các bị cáo, Kiểm sát viên cho rằng mức hình phạt đã đề nghị là phù hợp nên giữ quan điểm.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và về xử lý vật chứng. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, xem xét các điều kiện về nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 07 giờ 00 phút, ngày 19/5/2024, trên đường thuộc khu vực bản P, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an xã P làm nhiệm vụ phát hiện Phùng Chin M đang tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,024 gam. Phùng Chin M khai số Heroine của Phùng Chin M nhờ Hầu Thị D đi mua hộ, M trả cho D 100.000 đồng tiền công đi mua hộ Heroine. Quá trình điều tra, Hầu Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Hầu Thị D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phùng Chin M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 68/CT-VKS, ngày 26/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo D khai đã mua của một người không biết nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để điều tra xử lý trong vụ án này.

Đối với anh L2 Quyết Thắng là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-242.24, anh T cho bị cáo M mượn xe để đi chợ, anh T không biết việc bị cáo M sử dụng xe mô tô đi mua ma túy nên anh T không đồng phạm với bị cáo M trong vụ án này.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo M đã khai ra hành vi phạm tội của bị cáo D, giúp cơ quan điều tra phát hiện ra tội phạm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa về mức hình phạt đối với các bị cáo là không phù hợp, không đủ sức răn đe đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 0,977 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và mảnh nilon màu hồng, các vỏ niêm phong là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo D được hưởng lợi khi đi mua Heroine về cho bị cáo M nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 0,047 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định và 01 chiếc xe mô tô đã trả lại cho anh L2 Quyết Thắng, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Bị cáo Hầu Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  2. Bị cáo Phùng Chin M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về hình phạt:
    • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hầu Thị D: 03 (Ba) năm tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/5/2024 đến ngày 28/5/2024 (09 ngày), còn phải chấp hành: 02 (Hai) năm, 11 (Mười một) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù.
    • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Chin M: 02 (Hai) năm tù.

    Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 19/5/2024.

  4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu của bị cáo Hầu Thị D.
    • Tịch thu tiêu hủy: 0,977 gam Heroine còn lại sau giám định, mảnh nilon màu hồng, các vỏ niêm phong.

    (Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi: 15 giờ 00 phút, ngày 29/7/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh lai Châu).

  5. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ
  • (CQĐT, THAHS, Nhà Tạm giữ);
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các BC tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger