Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 134/2024/DS-ST

Ngày 26 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

2. Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 123/2024/TLST-DSST ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-DS ngày 21/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 135/2024/QĐST-DS ngày 10/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1;

Địa chỉ trụ sở: Tầng A và tầng 5, tòa nhà C, số A đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990 (Có mặt); Ông Lê Văn Thiện Q, sinh năm 1995 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số E N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Vũ Thanh B, sinh năm 1991 (Vắng mặt); bà Đặng Thị Thu D, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số B B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Đ trình bày:

Ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D và Ngân hàng TMCP B1 – Chi nhánh Đ1 đã cùng ký kết các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo (“Khế ước nhận nợ”), chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số: 0856/2016/HĐTD2/BVB25 ngày 23/12/2016, cụ thể như sau:

Số tiền vay: 718.000.000 đồng (Bảy trăm mười tám triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn: Vay mua xe ô tô; Thời hạn vay: 84 tháng. Các kỳ trả nợ, lãi suất cho vay được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết.

Ngày rút vốn: 23/12/2016; Ngày đến hạn: 23/12/2023.

Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân: 8% / năm trong 12 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên; Lãi suất điều chỉnh (Nếu có): Các kỳ sau bằng lãi suất huy động (VNĐ) 13 tháng trả lãi sau do B2 công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.5%/năm. Định kỳ điều chỉnh 06 tháng/lần. Kỳ điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 23/12/2017; Lãi suất quá hạn: Theo Hợp đồng tín dụng bằng 1,5 lần lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Lịch trả gốc: Gốc trả đều 03 tháng/kỳ, vào ngày 23 của tháng đến kỳ trả nợ gốc, mỗi kỳ số tiền gốc phải trả là 25.585.00đ, tháng trả gốc đầu tiên vào ngày 23/03/2017; Lịch trả lãi: Lãi trả vào ngày 23 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 23/01/2017, ngày trả lãi cuối cùng được trả vào ngày trả nợ cuối cùng. Việc thanh toán nợ được trừ trực tiếp từ số tài khoản 0251008519005, chủ tài khoản: Vũ Thanh B mở tại NGân hàng TMCP B1 - Chi nhánh Đ1.

Khoản vay được bảo đảm bằng tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1169615.A.16.HĐTC.ĐL số công chứng: 014145, Quyển số: 12-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2016 ký giữa ông Vũ Thanh B & bà Đặng Thị Thu D với Ngân hàng TMCP B1 – Chi nhánh Đ1 tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Tài sản thế chấp là: Xe ô tô mang biển số 47C-147.55, nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, loại xe: Tải pickup cabin kép, màu sơn: Đỏ vàng, số máy: P5AT2317753; số khung: FF50HW637814 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 024452 do Phòng C1 - Công an tỉnh Đ cấp ngày 23/12/2016; Tên chủ sở hữu: ông Vũ Thanh B.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D đã trả được 25.745.258 đồng tiền vay gốc và 22.628.721 đồng tiền lãi.

Sau ngày 23/6/2017 thì ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D không trả thêm được số tiền nào cả. Vì vậy, ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo. Ngân hàng TMCP B1 đã nhiều lần làm việc, tạo điều kiện để ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng khách hàng vẫn tiếp tục vi phạm cam kết, không thanh toán nợ vay cho ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển quá hạn từng kỳ theo Khế ước nhận nợ. Đến ngày 22/12/2023: Toàn bộ số tiền nợ gốc được chuyển sang quá hạn.

Tạm tính đến ngày 26/7/2024, ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền là:

- Nợ gốc: 692.254.742 đồng; Nợ lãi trong hạn: 248.239.146 đồng; Nợ lãi quá hạn: 431.106.651 đồng. Tổng cộng: 1.371.600.539 đồng.

Từ những nội dung đã trình bày trên, Ngân hàng TMCP B1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D thanh toán cho Ngân hàng TMCP B1 tổng số tiền 1.371.600.539 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 692.254.742

đồng; Nợ lãi trong hạn: 248.239.146 đồng; Nợ lãi quá hạn: 431.106.651 đồng (tạm tính đến ngày 26/7/2024) và tiền lãi phát sinh tính đến ngày tất toán.

Trường hợp ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D không trả được nợ thì đề nghị Tòa án cho xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn ông Vũ Thanh B trình bày:

Vào ngày 23/12/2016, vợ chồng tôi có ký Hợp đồng tín dụng để vay Ngân hàng TMCP B1 theo Hợp đồng tín dụng số 0856/2016/HĐTD2/BVB25 với số tiền vay là 718.000.000đ (Bảy trăm mười tám triệu); Mục đích: Mua xe ô tô.

Vợ chồng tôi thế chấp tài sản là xe ô tô biển số 47C-147.55 theo Hợp đồng thế chấp số 014145 được Công chứng tại Văn phòng C và Đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Thời gian vừa qua do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên công việc làm ăn của vợ chồng tôi gặp khó khăn nên chưa có khả năng trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng làm đơn khởi kiện vợ chồng tôi ra Tòa án. Nguyện vọng của vợ chồng tôi là đồng ý trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp không trả được nợ cho Ngân hàng thì vợ chồng tôi đồng ý phát mãi tài sản trả nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của Nguyên đơn; Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 299, 303, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1.

Buộc ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải cho Ngân hàng TMCP B1 tổng số tiền 1.371.600.539 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 692.254.742 đồng; Nợ lãi trong hạn: 248.239.146 đồng; Nợ lãi quá hạn: 431.106.651 đồng (tạm tính đến ngày 26/7/2024).

Ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trường hợp ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản là quyền sở hữu, sử dụng chiếc xe ô tô theo Giấy đăng ký xe số 024452, BKS 47C-147.55, nhãn hiệu Ford, số loại

Rager, loại xe tải pickup cabin kép, màu sơn: Đỏ vàng, số máy: P5AT2317753; số khung: FF50HW637814 do Phòng C1 - Công an tỉnh Đ cấp ngày 23/12/2016 đứng tên ông Vũ Thanh B đứng tên chủ sở hữu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về số tiền vay gốc: Ngày 23/12/2016, ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D có ký với Ngân hàng TMCP B1 Hợp đồng tín dụng số 0856/2016/HĐTD2/BVB25 để vay số tiền 718.000.000 đồng (Bảy trăm mười tám triệu đồng).

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D đã trả được 25.745.258 đồng tiền vay gốc. Sau ngày 23/6/2017 thì ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D không trả thêm được số tiền nào cả.

Như vậy là ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D đã vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ. Việc ký kết hợp giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên cần buộc bị đơn ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D trả cho Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B1 số tiền 692.254.742 đồng nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về lãi xuất:

- Tại Hợp đồng tín dụng số 0856/2016/HĐTD2/BVB25 và Khế ước nhận nợ số 0856.01/2016/KUNN2/BVB25. Các bên đã thỏa thuận như sau:

Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân: 8% / năm trong 12 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên.

Lãi suất điều chỉnh (Nếu có): Các kỳ sau bằng lãi suất huy động (VNĐ) 13 tháng trả lãi sau do B2 công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.5%/năm. Định kỳ điều chỉnh 06 tháng/lần. Kỳ điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 23/12/2017.

Lãi suất quá hạn: Bằng 1,5 lần lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Lịch trả lãi: Lãi trả vào ngày 23 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 23/01/2017, ngày trả lãi cuối cùng được trả vào ngày trả nợ cuối cùng.

Tuy nhiên, tính đến ngày 23/6/2017, bị đơn chỉ mới trả được 22.628.721 đồng tiền lãi. Từ ngày 23/6/2017 đến nay, phía Bị đơn chưa trả thêm được số tiền lãi nào cả. Nên từ ngày 23/6/2017 đến nay, phía Ngân hàng đã chuyển khoản vay nói trên sang quá hạn theo từng kỳ trả nợ gốc. Đến ngày 22/12/2023 thì toàn bộ khoản nợ gốc được chuyển sang quá hạn.

Tính đến ngày 26/7/2024, phía Bị đơn còn phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ lãi là 679.345.797 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 248.239.146 đồng; Nợ lãi quá hạn: 431.106.651 đồng.

Tổng cộng tiền vay gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/7/2024 mà bị đơn ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải trả cho Ngân hàng TMCP B1 là 1.371.600.539 đồng.

[4]. Về tài sản đảm bảo:

Khoản vay được bảo đảm bằng tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số công chứng: 014145, Quyển số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2016 ký giữa ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D với Ngân hàng TMCP B1 – Chi nhánh Đ1 tại Văn phòng C và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, trường hợp ông B, bà D không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì phía Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với Giấy đăng ký ký xe số 47017861 do Công an thành phố B cấp ngày 17/12/2021 của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 47B2-183.91 đứng tên ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D hiện Ngân hàng TMCP B1 đang quản lý. Do đó cần buộc Ngân hàng TMCP B1 phải trả lại cho ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D sau khi Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

[5] Về chi phí thẩm định: Ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Số tiền này đã được phía nguyên đơn nộp tạm ứng nên buộc ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải thanh toán cho Nguyên đơn.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; cụ thể: 36.000.000 đồng + (3% x 571.600.539 đồng) = 53.148.016 đồng.

Ngân hàng TMCP B1 không phải chịu án phí DSST nên hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B1 số tiền tạm ứng án phí là 25.784.422 đồng do bà ông Nguyễn Thanh Đ nộp thay theo biên lai số AA/2023/0005367 ngày 22/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 161, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 299, 303, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1.

  1. Buộc ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải cho Ngân hàng TMCP B1 tổng số tiền 1.371.600.539đ (Một tỷ, ba trăm bảy mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn, năm trăm ba mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc: 692.254.742đ (Sáu trăm chín mươi hai triệu, hai trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi hai đồng); Nợ lãi trong hạn: 248.239.146đ (Hai trăm bốn mươi tám triệu, hai trăm ba mươi chín nghìn, một trăm bốn mươi sáu đồng); Nợ lãi quá hạn: 431.106.651đ (Bốn trăm ba mươi mốt triệu, một trăm lẻ sáu nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng) (tạm tính đến ngày 26/7/2024).

    Ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

    Trường hợp ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1169615.A.16.HĐTC.ĐL số công chứng: 014145, Quyển số: 12-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/12/2016 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

    Ngân hàng TMCP B1 có trách nhiệm trả lại bản gốc Giấy đăng ký xe số 024452, BKS 47C-147.55, nhãn hiệu Ford, số loại Rager, loại xe tải pickup cabin kép, màu sơn: Đỏ vàng, số máy: P5AT2317753; số khung: FF50HW637814 do Phòng C1 - Công an tỉnh Đ cấp ngày 23/12/2016 đứng tên ông Vũ Thanh B cho ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D ngay sau khi ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

  2. Về chi phí thẩm định: Ông Vũ Thanh B và bà Đặng Thị Thu D phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Số tiền này đã được phía nguyên đơn nộp tạm ứng nên buộc ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải thanh toán cho Nguyên đơn.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Thanh B, bà Đặng Thị Thu D phải nộp 53.148.016đ (Năm mươi ba triệu, một trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm mười sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B1 số tiền tạm ứng án phí là 25.784.422đ (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm hai mươi hai đồng) do ông Nguyễn Thanh Đ đã nộp theo biên lai số AA/2023/0005367 ngày 22/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS Tp.Buôn Ma Thuột;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 134/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger