|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HS-ST
Ngày 26 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Cường
- Bà Phạm Tú Nhi
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số A, tỉnh lộ 43, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân sửa xe; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1957; bị cáo có 05 anh chị em (lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất 1999); vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1993, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Ngày 27/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/01/2023 (đã đóng án phí); tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/01/2021, bị Công an phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo quyết định xử phạt hành chính số 0031643 (Đã phạt đóng ngày 01/02/2021); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Đặng Thị Hoàng Y, sinh ngày 09/4/1985; Thường trú: 169/6 X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 13/02/1968; Thường trú: 169/6 X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: 232/6 L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/12/2023, Tổ tuần tra Công an thành phố D đang tuần tra kiểm soát địa bàn trên khu vực đường ĐT743, khi trên đường X, thuộc địa phận phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện Nguyễn Hoàng T điều khiển xe môtô biển số 69M1 -204.77, lưu thông theo hướng đi ngã tư E, có dấu hiệu khả nghi. Tổ công tác yêu cầu đối tượng dừng xe kiểm tra trước công ty W, địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình kiểm tra phát hiện túi quần phía trước, bên phải T đang mặc có 01 gói thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet Cigarettes, bên trong có 02 túi nylon hàn kín (trong đó, có 01 gói nylon được dán băng keo đen bên trong) chứa tinh thể màu trắng.
Qua điều tra xác định được: Nguyễn Hoàng T là đối tượng nghiện ma túy đá. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, T điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Sirius biển số 69M1 - 204.77 đến khu vực cầu vượt S, thuộc phường D, thành phố D gặp một người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá. Tại đây, người đàn ông giao cho T 02 gói nilon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, T đưa T1 1.000.000 đồng rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt giữ.
* Vật chứng thu thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô biển số 69M1 – 204.77, nhãn hiệu Yamaha Sirius, số khung; RLCUE3240JY21593; số khung: E3X9E57895.
- - 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại kết luận giám định số 679/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetmine, có khối lượng/trọng lượng: 1,9409 gam (M1); 2,5741 gam (M2).
Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số: 142/CT-VKS-DA ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
- Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 69M1 - 204.77, nhãn hiệu Yamaha Sirius, số khung; RLCUE3240JY21593; số khung: E3X9E57895 là tài sản của bà Nguyễn Thị Mỹ L, bà L giao chiếc xe trên cho cháu ruột của mình là chị Đặng Thị Hoàng Y mượn để sử dụng làm phương tiện di chuyển, đến ngày 10/12/2023, Nguyễn Hoàng T mượn xe của chị Y để đi lại nhưng lại sử dụng xe đi mua ma túy, bản thân chị Y, bà L không biết việc T đi mua ma túy. Đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mỹ L, ngày 04/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Mỹ L.
- + Đối với 01 (một) bì thư niêm phong, bên trong chứa hai 02 mẫu ma túy, khối lượng ma túy còn lại sau giám định là M1=1,7962 gam; M2= 2,4044 gam. Đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho đối tượng Nguyễn Hoàng T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại khu vực cầu vượt Sóng thần, thuộc phường D, thành phố D nhưng không xác định được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng. Đồng thời tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/10/2023, Nguyễn Hoàng T đã có hành vi mua 4,5147 gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi đang lưu thông đến trước công ty W, địa chỉ: Số A, đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị công an thành phố D kiểm tra hành chính và bắt quả tang Nguyễn Hoàng T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 4,5147 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi trên của Nguyễn Hoàng T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 142/CT - VKS ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, mới tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tịa Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết trên được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 69M1 - 204.77, nhãn hiệu Yamaha Sirius qua điều tra xác định chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Mỹ L, bà L giao chiếc xe trên cho cháu ruột là chị Đặng Thị Hoàng Y mượn để sử dụng làm phương tiện di chuyển, Nguyễn Hoàng T mượn xe của chị Y để đi lại nhưng sử dụng xe đi mua ma túy, bản thân chị Y, bà L không biết việc T đi mua ma túy. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mỹ L, ngày 04/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Mỹ L là phù hợp quy định của pháp luật.
- - Đối với một bì thư niêm phong bên trong chứa 02 mẫu ma túy, khối lượng ma túy còn lại sau giám định là M1 = 1,7962 gam; M2 = 2,4044 gam. Đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy
[8] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận. Về mức hình phạt đề nghị là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đa khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy một bì thư niêm phong, bên trong chứa 02 mẫu ma túy, khối lượng còn lại sau giám định là M1 = 1,7962 gam; M2 = 2,4044 gam.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
