|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày 24 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tình
- Bà Trần Thị An
Thư ký phiên tòa : Ông Huỳnh Thanh Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024, đối với bị cáo:
Họ tên: Trương Minh H - giới tính: nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 02 tháng 4 năm 2006 tại: T, Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Con ông Trương Văn H1 (sinh năm 1971) và bà Phạm Thị H2 (sinh năm 1971) cùng trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Gia đình có 03 người con, bị cáo là con đầu. Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Trương Văn H1 (Cha ruột), sinh năm 1971 Trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 2004; trú tại: thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 2008; trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn T: Ông Phan Hoàng A, sinh năm 1997; chức vụ: Bí thư đoàn phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Huỳnh Ngọc Gia H3, sinh năm 2007; trú tại: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Có mặt.
- + Ông Nguyễn Gia B, sinh năm 2005; trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trương Minh H, Nguyễn Văn T (sinh năm: 2008; trú: thôn Đ, xã T, huyện T) và Huỳnh Ngọc Gia H3 (sinh năm: 2007, trú: Thôn A, xã T, huyện T) cùng làm nhân viên quán N1 tại Số A L, phường A, thành phố T. Khoảng 05 giờ ngày 21/3/2024, sau khi làm việc xong, H3 gọi cho bạn gái là Lê Hoàng Yến N (sinh năm 2008, trú: thôn P, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam) đến quán chở giúp mình về nhà, còn H và T ở lại tại quán. Trong lúc H3 đứng đợi bạn đến, Nguyễn Ngọc P (sinh năm 2004, trú: thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình - nhân viên quán N2, địa chỉ Số A L, phường A, thành phố T) đi từ quán N2 đến gặp H3 và hỏi “Mày làm gì giờ này còn đứng đây?”, H3 trả lời “Tao làm nhân viên quán N1, đứng đợi bạn đến chở về”. Vì cho rằng H3 trả lời mình thiếu tôn trọng, P dùng tay trái của mình đánh vào vùng vai của H3 01 cái rồi bỏ đi. Lúc này, N đi xe máy đến nên H3 ngồi lên xe rồi N chở đi. Trên đường đi, H3 nhớ mình bỏ quên sạc điện thoại tại quán N1 nên nói N chở mình quay lại quán để lấy. Đến nơi, H3 thấy H và T chưa ngủ mà đang ngồi hút thuốc phía trước quán. H3 nói N về nhà ngủ, còn H3 ở lại nói chuyện cùng với H và T. Trong lúc nói chuyện, H3 nói cho H và T biết việc mình mới bị Nguyễn Ngọc P đánh như trên. Lúc này, P cùng Nguyễn Gia B (sinh năm 2005, trú: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam) từ quán N2 đi đến gặp H3 và hỏi “Lúc nãy mày bị tao đánh còn cay, nên giờ tính gỡ đúng không?”. H3 trả lời “Tao chỉ đứng chơi nói chuyện chứ có làm gì đâu”, P dùng tay trái của mình đấm vào vùng bụng của H3 một cái, vì bị đánh đau nên H3 ôm bụng ngồi xuống dưới đường.
Khi thấy H3 bị P đánh, H chạy vào bên trong quán lấy 01 cây kiếm tự chế vỏ màu đỏ, dài khoảng 90cm, phần lưỡi kiếm bằng kim loại sắc dài khoảng 65cm. H cầm kiếm chạy đến đứng đối diện, cách vị trí P đứng 90cm, chém doạ 01 nhát theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới (lưỡi kiếm cách đầu P 40cm, không trúng người Phi và không gây ra thương tích). Khi P xông vào, H cầm kiếm tự chế tiếp tục chém vào người P 01 nhát theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới với lực mạnh. P đưa tay trái lên đỡ thì phần lưỡi kiếm trúng vào mu bàn tay trái, phần mũi kiếm trúng vào vùng trán bên phải của P. Khi bị chém, Phi lao vào giằng co, ôm vật H nằm xuống lề đường, tay trái P nắm giữ lưỡi kiếm, tay phải tỳ đè người Hiệp dưới đất. Trong lúc nắm giữ lưỡi kiếm, P bị vết thương rách da tại ngón I bàn tay trái. Lúc này, T đứng bên trong quán nhìn thấy H và P giằng co, ôm vật dưới đường nên T cầm 01 cây kiếm tự chế vỏ màu đỏ đen, dài khoảng 100cm, phần lưỡi kiếm bằng kim loại sắc dài khoảng 75cm chạy đến đứng sau lưng, cách vị trí P đang đứng 60cm, dùng phần sống lưng của lưỡi kiếm chém vào vùng lưng của P 01 nhát với lực vừa phải (không gây ra thương tích gì). Nhìn thấy sự việc trên, H3 chạy đến can ngăn, dùng tay đẩy P ra khỏi người H, P bỏ chạy về quán nhậu 3Ku và được đưa đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Q để điều trị.
* Đồ vật tạm giữ:
- + 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ dài 65cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 61cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 25cm do Trương Minh H giao nộp.
- + 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ đen dài 74cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 68,5cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 24,5cm do Nguyễn Văn T giao nộp.
- + 02 (hai) đĩa DVD chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ việc cố ý gây thương tích xảy ra tại quán N1 vào ngày 21/3/2024.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 281/KLTTCT-TTPY ngày 06/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc P tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019 của Bộ Y. Tách tỷ lệ phần trăm thương tích:
- + 01 sẹo kích thước trung bình vùng trán phải. Xếp tỷ lệ 06%.
- + Nứt bản ngoài xương hộp sọ vùng trán phải dài 05cm. Xếp tỷ lệ 11%.
- + 01 sẹo kích thước nhỏ mu bàn tay trái. Xếp tỷ lệ 01%.
- + 01 sẹo kích thước nhỏ mặt gan bàn tay trái. Xếp tỷ lệ 01%.
Vết thương vùng trán phải là do vật sắc cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới;
Vết thương mu bàn tay trái, từ trên nền khớp bàn ngón III đến đốt 1 ngón IV là do vật sắc cạnh tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước.
Vết thương mặt gan bàn tay trái, trên nền đốt 1 ngón I là do vật sắc cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau.
Các vết thương trên cơ thể Nguyễn Ngọc P chỉ gây rách da, cơ đơn thuần và nứt bản ngoài xương hộp sọ vùng trán phải, không tổn thương tổ chức não bên trong, đã được điều trị nội khoa ổn định, nếu không cấp cứu kịp thời có thể không gây nguy hiểm đến tính mạng.
* Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- Đối với 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ dài 65cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 61cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 25cm do Trương Minh H giao nộp và 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ đen dài 74cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 68,5cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 24,5cm do Nguyễn Văn T giao nộp. Đây là hung khí các đối tượng sử dụng để gây thương tích cho người khác nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Vấn đề dân sự:
Bị hại Đoàn Ngọc P1 yêu cầu bồi thường tổng số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) bao gồm:
- + Tiền điều trị thuốc men tại bệnh viện Đ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 25/3/2024 là 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).
- + Tiền bồi dưỡng ăn uống và thuốc men bên ngoài số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- + Tiền lương nghỉ 15 ngày không đi làm là 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- + Tiền bồi thường tổn thất tinh thần, sức khỏe là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).
Nguyễn Ngọc P đã nhận đủ số tiền 45.000.000 đồng, trong đó: gia đình bị cáo Trương Minh H bồi thường số tiền 20.500.000 đồng; gia đình Huỳnh Ngọc Gia H3 đã hỗ trợ bị cáo Trương Minh H bồi thường cho Nguyễn Ngọc P số tiền 24.500.000đồng. Nguyễn Ngọc P không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và xin bãi nại cho Trương Minh H.
* Những vấn đề có liên quan trong vụ án:
- - Đối với Nguyễn Văn T: khi thấy Trương Minh H và Nguyễn Ngọc P giằng co, ôm vật dưới đường thì T đã có hành vi dùng phần sống của lưỡi kiếm chém 01 cái vào vùng lưng của P nhưng không gây ra thương tích gì cho P. Nguyễn Văn T đã tiếp nhận ý chí trong việc cùng cố ý gây thương tích cho P nên T là đồng phạm với Trương Minh H. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi thì Nguyễn Văn T mới 15 tuổi 07 tháng 11 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT đã có văn bản đề nghị Cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ giáo dục tại xã phường đối với Nguyễn Văn T là đúng quy định.
- - Đối với Huỳnh Ngọc Gia H3: tại trước quán N1, H3 có nói với Trương Minh H, Nguyễn Văn T về việc H3 bị đánh. Tuy nhiên, H3 không bàn bạc, rủ rê, xúi giục, kích động Trương Minh H và Nguyễn Văn T đánh lại Nguyễn Ngọc P. Việc H, T cầm kiếm tự chế đánh P là hành động tự phát khi thấy bạn mình bị P đánh. H3 không tham gia đánh P, khi thấy H và T dùng kiếm tự chế chém P thì H3 đã ngăn cản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Huỳnh Ngọc Gia H3 là có cơ sở.
- - Đối với Nguyễn Gia B: khi nghe P rủ “qua đây chơi với tau” thì B đi cùng Nguyễn Ngọc P từ quán 3Ku đến quán N1, tuy nhiên B nghĩ P rủ đi chơi nên đi cùng, B không tham gia đánh Huỳnh Ngọc Gia H3. Do đó, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với Nguyễn Gia B là phù hợp.
- - Đối với Nguyễn Ngọc P: P có 02 lần vô cớ dùng tay đánh vào vai và đấm vào bụng Huỳnh Ngọc Gia H3 tại trước quán N1 nhưng không gây thương tích gì; đồng thời, H3 không có yêu cầu xử lý. Do đó, hành vi của Nguyễn Ngọc P không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT đã có văn bản đề nghị Công an thành phố T xử phạt hành chính số tiền 8.000.000 đồng đối với Nguyễn Ngọc P về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là đúng quy định.
* Về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Về những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- - Về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Trương Minh H đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 20.500.000đ (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Người bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo Trương Minh H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trương Minh H chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự.
Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKSTK-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Trương Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trương Minh H từ 12 đến 15 tháng tù.
Về vấn đề dân sự:
Bị hại Đoàn Ngọc P1 yêu cầu bồi thường tổng số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) bao gồm: Tiền điều trị thuốc men tại bệnh viện Đ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 25/3/2024 là 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng), T1 bồi dưỡng ăn uống và thuốc men bên ngoài số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), Tiền lương nghỉ 15 ngày không đi làm là 5.000.000đ (năm triệu đồng), Tiền bồi thường tổn thất tinh thần, sức khỏe là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).
Nguyễn Ngọc P đã nhận đủ số tiền 45.000.000 đồng, trong đó: gia đình bị cáo Trương Minh H bồi thường số tiền 20.500.000 đồng; gia đình Huỳnh Ngọc Gia H3 đã hỗ trợ bị cáo Trương Minh H bồi thường cho Nguyễn Ngọc P số tiền 24.500.000đồng. Nguyễn Ngọc P không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và xin bãi nại cho Trương Minh H. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng và những vấn đề có liên quan trong vụ án: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xử xử xem xét giải quyết theo quy định.
Bị cáo thống nhất với tội danh; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo đã nhận biết sai trái, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[1.2]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo Trương Minh H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 21/3/2024 tại trước quán N1, Số A L, phường A, thành phố T, mặc dù không có mâu thuẫn gì với Nguyễn Ngọc P nhưng Trương Minh H đã dùng 01 cây kiếm tự chế lưỡi bằng kim loại chém vào người Nguyễn Ngọc P, hậu quả P bị thương tích tỷ lệ 18% (mười tám phần trăm). Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Minh H đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 131/CT-VKSTK-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Trương Minh H lúc phạm tội tuy chưa đủ 18 tuổi nhưng vẫn đủ nhận thức để biết được việc cố ý gây thương tích cho người khác bị pháp luật nghiêm cấm. Thế nhưng, mặc dù không có mâu thuẫn gì với Nguyễn Ngọc P nhưng bị cáo dùng kiếm tự chế là hung khí nguy hiểm chém vào người Nguyễn Ngọc P gây thương tích 18%. Hành vi của bị cáo là xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng bạo lực nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Trương Minh H đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 20.500.000đ (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đo, bị cáo Trương Minh H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trương Minh H chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Những tình tiết này sẽ được Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt.
[5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt truy tố.
[6] Về loại hình phạt áp dụng: Xét tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đoàn Ngọc P1 yêu cầu bồi thường tổng số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) bao gồm: Tiền điều trị thuốc men tại bệnh viện Đ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 25/3/2024 là 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng), tiền bồi dưỡng ăn uống và thuốc men bên ngoài số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), tiền lương nghỉ 15 ngày không đi làm là 5.000.000đ (năm triệu đồng), tiền bồi thường tổn thất tinh thần, sức khỏe là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).
Nguyễn Ngọc P đã nhận đủ số tiền 45.000.000 đồng, trong đó: gia đình bị cáo Trương Minh H bồi thường số tiền 20.500.000 đồng; gia đình Huỳnh Ngọc Gia H3 đã hỗ trợ bị cáo Trương Minh H bồi thường cho Nguyễn Ngọc P số tiền 24.500.000đồng. Nguyễn Ngọc P không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và xin bãi nại cho Trương Minh H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy đối với:
- + 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ dài 65cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 61cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 25cm;
- + 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ đen dài 74cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 68,5cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 24,5cm.
- - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với 02 (hai) đĩa DVD chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ việc cố ý gây thương tích xảy ra tại quán N1 vào ngày 21/3/2024.
[9] Những vấn đề có liên quan trong vụ án:
- Đối với Nguyễn Văn T: khi thấy Trương Minh H và Nguyễn Ngọc P giằng co, ôm vật dưới đường thì T đã có hành vi dùng phần sống của lưỡi kiếm chém 01 cái vào vùng lưng của P nhưng không gây ra thương tích gì cho P. Nguyễn Văn T đã tiếp nhận ý chí trong việc cùng cố ý gây thương tích cho P nên T là đồng phạm với Trương Minh H. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi thì Nguyễn Văn T mới 15 tuổi 07 tháng 11 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT đã có văn bản đề nghị Cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ giáo dục tại xã phường đối với Nguyễn Văn T là đúng quy định.
- Đối với Huỳnh Ngọc Gia H3: tại trước quán N1, H3 có nói với Trương Minh H, Nguyễn Văn T về việc H3 bị đánh. Tuy nhiên, H3 không bàn bạc, rủ rê, xúi giục, kích động Trương Minh H và Nguyễn Văn T đánh lại Nguyễn Ngọc P. Việc H, T cầm kiếm tự chế đánh P là hành động tự phát khi thấy bạn mình bị P đánh. H3 không tham gia đánh P, khi thấy H và T dùng kiếm tự chế chém P thì H3 đã ngăn cản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Huỳnh Ngọc Gia H3 là có cơ sở.
- Đối với Nguyễn Gia B: khi nghe P rủ “qua đây chơi với tau” thì B đi cùng Nguyễn Ngọc P từ quán 3Ku đến quán N1, tuy nhiên B nghĩ P rủ đi chơi nên đi cùng, B không tham gia đánh Huỳnh Ngọc Gia H3. Do đó, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với Nguyễn Gia B là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Ngọc P: P có 02 lần vô cớ dùng tay đánh vào vai và đấm vào bụng Huỳnh Ngọc Gia H3 tại trước quán N1 nhưng không gây thương tích gì; đồng thời, H3 không có yêu cầu xử lý. Do đó, hành vi của Nguyễn Ngọc P không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT đã có văn bản đề nghị Công an thành phố T xử phạt hành chính số tiền 8.000.000 đồng đối với Nguyễn Ngọc P về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là đúng quy định.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trương Minh H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/5/2024.
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy đối với:
- + 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ dài 65cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 61cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 25cm;
- + 01 (một) cây kiếm tự chế, vỏ kiếm bằng gỗ màu đỏ đen dài 74cm, phần thân kiếm bằng kim loại dài 68,5cm, mũi kiếm nhọn, cán kiếm bằng gỗ dài 24,5cm.
(02 (hai) vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 05/9/2024).
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với 02 (hai) đĩa DVD chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ việc cố ý gây thương tích xảy ra tại quán N1 vào ngày 21/3/2024.
4. Về án phí: Bị cáo Trương Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/9/2024); bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Thiện |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Minh H - Cố ý gây thương tích
