|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HS-ST
Ngày: 23/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bạc Thị Kiên
- Bà Lò Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TL-HSST ngày tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn Ơ và con bà: Quàng Thị H; Vợ: Quàng Thị X (Đã ly hôn năm 2012); Con: Có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/01/2013 C bị tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 11/7/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Bản án này đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C1: Bà Nguyễn Thị Kim N - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).
* Người có nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lò Thị S - Sinh năm: 1957; Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ (Vắng mặt có lý do);
- Lò Văn T - Sinh năm: 2001; Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phối hợp với Công an xã T, huyện Đ đang làm nhiệm vụ thì phát hiện tại nhà Lường Văn C ở bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có nghi vấn phạm tội về ma tuý. Tổ công tác tiến hành vào nhà để kiểm tra, thì Lường Văn C đã tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 0,26 gam Heroine. Thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải C đang mặc số tiền 195.000 đồng, C khai là tiền bán Heroine mà có, cụ thể:
Khoảng 15 giờ ngày 15/01/2024, Lò Thị S, trú tại bản N, xã N, huyện Đ đi xe máy đến bản Co Chai, xã T, huyện Đ chơi thì gặp Lường Văn C. Tại đây C hỏi và mua được của S 01 gói Heroine gói với giá 600.000 đồng mục đích để sử dụng và bán. Mua xong, C mang về nhà lấy dao lam cắt một cục nhỏ Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại Chung gói lại như cũ và cất trong túi quần bên phải đang mặc.
Khoảng 08 giờ ngày 16/01/2024 khi C đang ở nhà thì Lò Văn T, trú tại bản C, xã T đến hỏi mua 95.000 đồng Heroine, C đồng ý nhận tiền cất vào túi quần đằng trước bên phải, rồi lấy gói Heroine trong túi quần bên phải đang mặc ra, dùng dao lam cắt 01 cục Heroin gói lại bằng nilon màu đen đưa cho T, C gói số Heroine còn lại cất vào túi quần bên phải đang mặc. Mua được Heroine T mang về nhà sử dụng hết bằng hình thức chích.
Khoảng 05 phút sau khi C đang ở nhà thì có một người đàn ông không biết tên, địa chỉ đến hỏi mua 100.000 đồng Heroine, C đồng ý nhận tiền cất vào túi quần đằng trước bên phải, rồi lấy gói Heroine ra dùng dao lam cắt 01 cục Heroine gói lại bằng nilon màu đen đưa cho người đàn ông. Số H1 còn lại C gói lại, dùng bật lửa hơ lửa hàn kín cất vào túi quần bên phải đang mặc mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Chiếc dao lam và bật lửa C đã vứt đi, nên không thu giữ được.
Lò Thị S khai không bán H1 cho C. Việc mua Heroine của S và việc C bán 100.000 đồng Heroine cho người đàn ông không quen biết chỉ một mình C biết. Do vậy không đủ căn cứ xác định S đã bán H1 cho C và C bán 100.000 đồng Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 17/01/2024 đã xác định: Khối lượng toàn bộ số cục màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,26 gam, gửi toàn bộ giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 279/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Lường Văn C có khối lượng 0,26 gam là chất ma túy: Loại H (H). H2 lại đối tượng giám định, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại Bản kết luận giám định số: 319/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có mã số hiệu: XB20734371; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: SB22468255; 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: AI21643867, GJ21240490; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) có mã số hiệu: TI0462276 là tiền thật.
Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H2 lại mẫu sau khi giám định là: 0,2 gam.
Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 29/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H2 lại mẫu sau khi giám định là: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có mã số hiệu: XB20734371; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: SB22468255; 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: AI21643867, GJ21240490; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) có mã số hiệu: TI0462276.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 12/4/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,2 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh kèm theo 02 phong bì niêm phong ban đầu và số tiền 195.000 đồng (Một trăm chín lăm nghìn đồng).
Ngoài ra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ còn tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Mobiistar và 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn C không liên quan đến hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số: 66/CT-VKSHĐB ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn C với mức hình phạt tù từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 mảnh nilon màu xanh là vật chứng của vụ án. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 95.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng (tiền không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có).
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đã cũ, đã qua sử dụng và 01 cước công dân số 0110 79005040 mang tên Lường Văn C vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
* Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại luận cứ bào chữa cho bị cáo Lường Văn C ngày 23/5/2024: Người bào chữa hoàn toàn nhất trí với quan điểm của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo điều 52 Bộ luật hình sự. Khối lượng ma túy bị thu giữ cũng chỉ ở trên mức đầu khung. Do vậy kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề xuất mức hình phạt tù từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng. Với việc bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất trong mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị là phù hợp, đủ thời gian cho bị cáo cai nghiện trở về với đời thường. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Đối với tài sản bị thu giữ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đỏ, đen và số tiền 100.000 đồng do những tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội. Về án phí: Cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo là đối tượng được miễn án phí. Do vậy, đề nghị HĐXX áp dụng quy định của pháp luật miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo không bổ sung lời bào chữa. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Lường Văn C hoàn toàn thừa nhận vào ngày 16/01/2024, tại nhà ở của mình thuộc bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, C đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn T thu được 95.000 đồng và cất giấu trái phép trên người 0,26 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. C khai số ma túy trên là do C mua của bà Lò Thị S vào khoảng 15 giờ ngày 15/01/2024 tại bản Co Chai, xã T, huyện Đ với số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Lường Văn C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi trên của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy nói chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Lường Văn C không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số: 75/2013/HSST ngày 16/01/2013 C bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 11/7/2014 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma túy từ năm 1997 cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khai báo hành vi bán ma túy cho T khi chưa bị phát hiện và ông nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đối với đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất trong mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Xét thấy, đề nghị của người bào chữa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, mặt khác cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Đ; Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu xanh là vật chứng của vụ án và kèm theo 02 phong bì niêm phong ban đầu không có giá trị sử dụng. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 95.000 đồng (Chín mươi lăm nghìn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có (tiền bị cáo bán ma túy cho Lò Văn T).
[6] Về các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai đã mua của bà Lò Thị S - Sinh năm: 1957; Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của bà S và tiến hành đối chất giữa bà S với bị cáo nhưng bà S không thừa nhận việc đã bán ma túy cho bị cáo. Xét thấy, việc mua Heroine của bị cáo và việc bị cáo bán 100.000 đồng Heroine cho người đàn ông không quen biết chỉ một mình bị cáo biết nên không đủ căn cứ xác định bà S đã bán Heroine cho bị cáo và bị cáo đã bán 100.000 đồng Heroine. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy bà S không có quyền lợi gì trong vụ án này, nên cần xác định bà S chỉ là Người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Bị cáo khai đã bán 01 cục Heroine cho một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền là 100.000 đồng. Việc mua bán ma tuý chỉ có một mình bị cáo biết, do vậy không đủ căn cứ kết luận bị cáo đã bán 01 cục Heroine gói bằng mảnh nilon màu đen cho người đàn ông trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng do không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu mobiistar đã cũ, đã qua sử dụng và 01 cước công dân số 0110 79005040 mang tên Lường Văn C, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với Lò Văn T là người đã mua của bị cáo 01 gói Heroine vào ngày 16/01/2024, sau đó T đã mang về nhà sử dụng hết bằng hình thức chích. Vì vậy, ngày 20/3/2024 Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16 đối với T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy" bằng hình thức Cảnh cáo. Xét việc xử phạt hành chính đối với T của Công an huyện Đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do cá nhân bị cáo thuộc hộ nghèo và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lường Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Lường Văn C 02(Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (16/01/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng:
- * Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu xanh là vật chứng của vụ án và kèm theo 02 phong bì niêm phong ban đầu không có giá trị sử dụng.
- + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 95.000 đồng (Chín mươi lăm nghìn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có (tiền bị cáo bán ma túy cho Lò Văn T).
- * Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), tiền không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có và trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động loại bàn phím màu đỏ, đen nhãn hiệu mobiistar đã cũ, đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lường Văn C không liên quan đến hành vi phạm tội.
Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn C.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Lường Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Ch
