Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Vy Ngọc Q, sinh năm 1987 tại Đồng Nai; Cư trú: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vy Văn B (chết) và con bà Lê Thị H (chết); chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng và đã chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính; Bị giam giữ từ ngày 06/9/2023. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Đức P, sinh năm: 1979. Cư trú: Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

Người làm chứng:

  • + Anh Bùi Như Ý, sinh năm 1987. (vắng mặt)
  • + Anh Vòng A H1, sinh năm: 1976. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vy Ngọc Q là đối tượng sử dụng ma tuý từ năm 2009, đầu năm 2023 Q sử dụng ma túy đá pha vào H2 dùng kim tiêm chích trực tiếp vào cơ thể để tăng độ hưng phấn. Vào khoảng 08 giờ ngày 06/9/2023, Q điện thoại cho đối tượng “Dũng” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1,1 chỉ (một chỉ mốt) ma túy loại Heroin, D đồng ý bán với giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và hẹn giao ma túy ở khu vực gần cầu S thuộc xã T, huyện T. Sau đó Q điều khiển xe mô tô biển số 60X2-4773 đến điểm hẹn gặp đối tượng “D” đưa tiền, rồi D đưa cho Q 01 (một) gói nylon (loại bịch Zip) kích thước 05cm x 10cm, bên trong chứa ma túy H2 và cho Q thêm 01 gói ma túy đá pha vào Heroin để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Q mang về nhà lấy ra một ít sử dụng cho bản thân, rồi Q lấy 01 ống hút màu trắng cắt ra thành 02 đoạn ngắn để phân Heroin vào trong 02 đoạn ống nhựa này, sau đó hàn kín lại và nhét vào bóp da bỏ trong túi quần phía sau bên phải, gói ma túy đá Quý cất vào túi quần phía trước bên phải, còn gói ma túy H2 vừa mua về Q cất giấu dưới gầm bếp trong nhà Q. Khoảng 10 giờ ngày 06/9/2023, Q điều khiển xe mô tô biển số 60X2-4773 đến nhà Bùi Như Ý tại ấp H, xã H, huyện T, tại đây Q lấy 01 tép ma túy loại Heroin cho Ý, Ý cầm tép ma túy ra bãi đất phía sau nhà sử dụng một mình còn Q điều khiển xe đi công việc. Sau khi sử dụng ma túy xong, Ý đi ra trước nhà thì Q cũng vừa quay lại nên Q nhờ Ý đi cùng đến nhà Q lấy dàn áo xe mô tô của Q mang về nhà Ý sơn lại giúp thì Ý đồng ý. Khi Q điều khiển xe mô tô biển số 60X2-4773 chở Ý đến đoạn đường thuộc ấp T, xã S thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, do sợ bị phát hiện, nên Q điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy. Lúc này, Ý nói Q dừng lại nhưng Q không dừng mà tiếp tục điều khiển xe chạy khoảng 01 km thì bị lực lượng Công an đuổi kịp và dừng xe mô tô biển số 60X2-4773 do Q điều khiển để kiểm tra. Lúc này, Q lấy gói ma túy đá trong túi quần cầm trên tay định ném xuống đất thì bị Công an phát hiện thu giữ, kiểm tra bóp da của Q thu giữ thêm 01 tép Heroin. Sau khi bị bắt, Q khai nhận số ma túy còn lại đang cất giấu dưới gầm nhà bếp tại nhà của Q nhằm mục đích để sử dụng dần cho bản thân nên lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra và thu giữ toàn bộ số ma túy của Q. Công an xã S đã đã lập hồ sơ phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng trên gồm: 01 gói nylon màu trắng hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong vào 01 phong bì (kí hiệu M1); 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong vào phong bì giấy (kí hiệu M2); 01 gói nylon (loại bịch Zip) bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong vào một phong bì (kí hiệu M 3); 01 điện thoại Nokia màu hồng, gắn sim số 0795472891; 01 điện thoại Nokia màu đen gắm sim số 0565924087 thu giữ của Vy Ngọc Q; 01 bóp da màu nâu, bên trong có số tiền 1.232.000 đồng (Một triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn đồng); 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Utimo màu đỏ biển số 60X2-42773 thu giữ của Vy Ngọc Q.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 2019/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng (ký hệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3179 gam, loại Methamphetamine;
  • - Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0313 gam, loại Heroine;
  • - Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng : 5,2136 gam, loại Heroine (Bút lục số 20-24).

Xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có gắn số sim 0565924087, 01 bóp da màu nâu và số tiền 1.232.000 đồng của Vy Ngọc Q không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Vy Ngọc Q.
  • + Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Utimo màu đỏ, biển số 60X2-4773 tuy xe đứng tên anh Võ Đức P nhưng anh P đã bán xe cho người không rõ nhân thân, lai lịch từ lâu, anh P cũng không có tài liệu chứng minh về xe này. Do xe chưa rõ về nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với đối tượng tên “D” là người bán ma túy cho Q hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vy Ngọc Q và B1 như Ý, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS-TB ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Vy Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Q từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
  2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 ống kim tiêm. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động (kèm theo sim).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai người làm chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 06/9/2023, tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Vy Ngọc Q đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,3179 gam ma túy loại Methamphetamine và 5,2449 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Ngoài ra, cùng ngày 06/9/2023, tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Vy Ngọc Q đã thực hiện hành vi cung cấp ma túy loại Heroine cho Bùi Như Ý để sử dụng trái phép tại nhà của Ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo Vy Ngọc Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  2. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Vì ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy; mặt khác, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội.
  3. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa ma túy sau giám định số 2019/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ và 01 ống kim tiêm theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đối với 01 điện thoại di động bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  6. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Vy Ngọc Q phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt bị cáo Vy Ngọc Q 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vy Ngọc Q phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2023.
  2. Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 2019/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ và 01 ống kim tiêm.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động (kèm theo sim).
    • (Các vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024).
  3. Căn cứ vào điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai ;
  • - VKSND huyện Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra CAH. Trảng Bom;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - THA, Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Vy Ngọc Qúy phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger