Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 134/2025/DS-ST

Ngày: 18 - 12 - 2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nghi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Trần Thị Lệ
  2. Trần Lệ Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Võ Tài Đức – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nga- Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Minh Đ, sinh năm 1963, Đặng Thị H, sinh năm 1965 (Có mặt).

    Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957 (Có mặt).

    Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1961 (Có mặt).

      Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

    • Ông Quách Văn M1, sinh năm 1964 (Vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt).

      Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

    • Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984 (Vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt)

      Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

    • Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1947 (Vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt)

      Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

    • Nguyễn Thành P, sinh năm 1967 (Vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt)

      Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

    • Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đ3, tỉnh An Giang (Vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt)

      Địa chỉ: Ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 15/01/2021 nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, bà Đặng Thị H trình bày: Vào năm 1968, cha bà Đ, bà H là ông Nguyễn Văn Đ1 (chết năm 2012) và mẹ là bà Đặng Thi R (chết năm 2019) có khai khẩn 01 diện tích đất khoảng 05 công đất tọa lạc ấp A, xã H, huyện K để trồng hoa màu, cây ăn trái. Đến năm 1988 cho mẹ sang nhượng lại 04 công đất cho bà Nguyễn Thị T1 (đã chết), còn lại 01 công đất cho 03 chị em gồm: Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị H và Nguyễn Thành P quản lý vào năm 1988 (giao đất không có giấy tờ). Trong diện tích đất 01 công đất này, cha mẹ đã hiến cho Phòng Văn hóa Thông tin huyện làm cơ quan Truyền thanh, nhà tập thể và cho lối xóm đào 06 cái giếng và 02 lối đi nên phần đất còn lại khoảng 30m² tọa lạc ấp A, xã H, huyện K, Kiên Giang (Nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang). Tháng 3/2017, bà Nguyễn Thị M đã tự ý đào giếng trong phần đất 30m² của bà Đ, chị em bà đã trình báo với chính quyền xã H kịp thời ngăn chặn. Đến ngày 18/3/2020, lần 2 bà Nguyễn Thị M cùng em trai là ông Nguyễn Văn B lấy đất bà đào giếng khoảng 7,2m² và xây nhà trọ lấn chiếm đất. bà Đ, bà H đã báo với chính quyền xã H đến ngăn chặn nhiều lần nhưng chị em bà M, ông B vẫn ngoan cố xây đào giếng cho đến khi hoàn thành.

Nay nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, bà Đặng Thị H yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B lấp giếng và trả cho chị em bà Đ, H diện tích đất theo đo đạc thực tế là 11m2 tọa lạc tổ A, ấp A, xã H, huyện K (nay là tổ A ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang), không đồng ý hỗ trợ việc sang lấp giếng.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Năm 1945 cha bà là ông Nguyễn Văn Đ2 từ đất liền ra H làm ăn sinh sống và hoạt động Cách mạng năm 1945, Nhà nước khi đó có chủ trương lấy đất chia cho người dân trong đó có cha bà. Diện tích đất cha bà được chia có chiều dài theo lộ từ nhà bà Bùi Thị T2 (nay là nhà T) chạy dài đến nhà công vụ Kho bạc huyện K, chiều dài từ mé lộ chạy dài đến gộp đá núi sau nhà, khoảng 70m. Trong khu đất này có 02 hàng xoài cổ thụ khoảng 10 cây, 01 cây mít và khoảng 300 cây dừa. Đến khoảng 1968, gia đình bà Đặng Thị Minh Đ là người từ nơi khác đến sinh sống. Thời gian đầu gia đình bà Đ không có nơi sinh sống nên ở nhờ nhà chị Sáu H2. Cha bà Đ thường gọi là ông 7 S đã mượn của gia đình bà khoảng 03 công đất để trồng hoa màu. Trước đây gia đình bà khi ra H có đào 1 giếng nước ở sau hè nhưng đến những năm 1960, dân tản cư chạy giặc ra ở đông người nên giếng nước này không đủ xài. Đến năm 1970 gia đình bà đào thêm 01 giếng nước. Nay bà Đ và bà H khởi kiện yêu cầu bà lấp giếng và trả lạc cho bà Đ, bà H diện tích đất 11m² đất tọa lạc tổ A, ấp A, xã H, huyện K thì bà không đồng ý vì phần đất này gia đình bà được Nhà nước cấp từ năm 1945 cho đến nay. Phần đất mà có giếng nước hiện tại bà Đ, bà H tranh chấp Nhà nước đã quy hoạch làm đường đi chung cho người dân và làm đường thoát nước cho dân khoảng 20 năm nay.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Thống nhất phần trình bày của bà Nguyễn Thị M, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Văn M1 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của vợ là Đặng Thị H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của chồng là ông Nguyễn Văn B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Huỳnh Văn T trình bày: Thống nhất như lời trình bày của vợ là bà Nguyễn Thị M.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Nguyễn Thành P trình bày: Thống nhất như lời trình bày của bà Đặng Thị Minh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Chủ tịch UBND đặc khu Đ3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên không trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thủ tục giải quyết vụ án nhưng Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng vấn đề này không làm thay đổi nội dung giải quyết vụ án.

- Về nội dung, Nguyên đơn Bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị H yêu cầu Tòa án buộc bà M, ông B lấp giếng và trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 11m2 trong diện tích đất 30m² tọa lạc tổ A, ấp A, xã H, Đặc khu K Xét thấy, trên cơ sở đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh, biên bản hòa giải giữa nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện. Theo trình bày của nguyên đơn của bà Đặng Thị Minh Đ thì năm 1988 cho mẹ bà Đ sang nhượng lại 04 công đất cho bà Nguyễn Thị T1 (đã chết), còn lại 01 công đất cho 03 chị em bà Đ, gồm: Đặng Thị Minh Đ; Đặng Thị H và Nguyễn Thành P quản lý vào năm 1988 (giao đất không có giấy tờ). Trong diện tích đất 01 công đất này, cha mẹ bà Đ đã hiến cho Phòng Văn hóa Thông tin huyện làm cơ quan Truyền thanh, nhà tập thể cho lối xóm đào 06 cái giếng và 02 lối đi nên phần đất còn lại khoảng 30m², tuy nhiên phần trình bày của bà Đ không có giấy tờ gì chứng minh cho nguồn gốc đất mà bà Đ cho rằng đất còn lại là 30m² như lời trình bày. Hơn nữa bà Đ, bà H trước khi khởi kiện Tại Tòa án thì vào ngày 19/12/2020 bà Đ có gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp với nội dung trên đến Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang, nay là Đặc khu K, tỉnh An Giang, qua báo cáo kết qủa xác minh nguồn gốc tranh chấp (bl 67) và theo Thông báo kết qủa của UBND xã H về việc giải quyết đơn yêu cầu của bà Đặng Thị Minh Đ cho rằng: đối với yêu cầu của bà Đ không có cơ sở để xem xét công nhận phần đất cho bà Đ sử dụng. Nếu ông B bà M có muốn tiếp tục sử dụng nước giếng thì bị đơn ông B và bà M thống nhất sửa đúng vị trí của giếng nước củ của bà M xây dựng vào năm 1970, không được phép di dời lệch vị trí từ giếng nước củ của bà M qua vị trí chỗ khác. Thống nhất giữ nguyên hiện trạng của con hẻm thông thoáng để làm lối đi chung, đề phòng thoát nước vào mùa mưa lũ và lối thoát hiểm cho bà con trong xóm. Vì vậy phần đất tranh chấp hiện nay nằm trong phần hẻm chung do nhà nước quản lý đồng thời xác định là lối đi chung. Tại thời điểm này bà Đ, bà H cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không cung cấp được các giấy tờ về quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định tại Điều 99, 100 luật đất đai 2013, Điều 166 BLTTDS năm 2015, như vậy nguyên đơn bà Đ, bà H yêu cầu các bị đơn lấp cái giếng, trả lại diện tích đất là không có cơ sở chấp nhận.

Tại biên bản hòa giải tại Tòa ngày 23/05/2024 và ngày 19/11/2025 bị đơn xác định không có yêu cầu phản tố, việc ông B có thừa nhận là phần đất tranh chấp là nhà nước đã quy hoạch làm đường đi chung cho người dân và làm đường thoát nước cho dân khoảng 20 năm nay, như vậy phía bị đơn cũng xác định đây là đất thuộc nhà nước quản lý.

Về án phí dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị H khởi kiện tranh chấp QSD đất với bị đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B. Hội đồng xét xử xác định tranh chấp của đương sự được quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quách Văn M1, Nguyễn Thị H1, Huỳnh Văn T, Nguyễn Thành P, Chủ tịch UBND đặc khu Đ3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, bà Đặng Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B lấp 01 cái giếng và trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 11 m2 tọa lạc ấp A, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang, nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Năm 1945 ông Nguyễn Văn Đ2 (Cha bà M, ông B) ra H sinh sống và được nhà nước giao cấp một phần đất. Trong quá trình sử dụng đất cần nước sinh hoạt nên có đào 1 giếng nước, do không đủ nước sinh hoạt nên đào thêm 01 cái giếng nước nữa. Sau đó ông Đ2 giao lại một phần đất cho bà Nguyễn Thị M quản lý sử dụng và bà M được UBND huyện Đ3 cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 14/3/2016, thửa số 01, tờ bản đồ số 112B/2015, diện tích 32,3 m2 tọa lạc ấp A, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang, nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang. Hiện nay bà M quản lý sử dụng 01 giếng nước, các bên không tranh chấp và ông B quản lý sử dụng 01 giếng nước hiện đang tranh chấp.

Ngày 01/06/2020 ông Nguyễn Văn B có đơn xin sửa chữa giếng nước sinh hoạt. Ngày 16/6/2020 UBND xã H trả lời bằng Thông báo số 57/TB-UBND nội dung: Nếu ông B muốn tiếp tục sử dụng giếng nước của ông B và bà M, thống nhất sửa đúng vị trí của giếng nước cũ của bà M xây dựng năm 1970, không được phép di dời vị trí giếng nước cũ. Giữ nguyên hiện trạng của con hẽm thông thoáng để làm lối đi chung, đề phòng thoát nước vào mùa mưa lũ và lối thoát hiểm cho bà con trong xóm, ấp.

Tại biên bản hòa giải của UBND xã H ngày 11/6/2020 xác định giếng nước các bên tranh chấp là của ông Nguyễn Văn B quản lý sử dụng từ năm 1970 đến nay, còn lối đi là lối đi sử dụng chung cho xóm, ấp do nhà nước quản lý.

Nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, bà Đặng Thị M2 tranh chấp yêu cầu bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B lấp 01 cái giếng và trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 11 m2 tọa lạc ấp A, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang, nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có cơ sở chấp nhận.

[4] Từ các cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị M2 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B lấp 01 cái giếng và trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 11 m2 tọa lạc ấp A, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang, nay là ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị M2 nên bà Đ, bà M2 phải liên đới chịu án phí nhưng bà Đ, bà M2 là người cao tuổi thuộc trường hợp không phải chịu án phí nên được miễn chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về chi phí tố tụng:

Số tiền định giá là 5.000.000 đồng của Công ty TNHH một thành viên B1 và tiền trích đo bản vẽ là 704.160 đồng, tổng cộng là 5.704.160 đồng. Do không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị M2 phải chịu toàn bộ và nguyên đơn đã nộp xong không phải nộp thêm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 50 Luật đất đai năm 2003; Điều 99, 100, 101, 188 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị M2 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn B lấp 01 cái giếng và trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 11 m2 tọa lạc ấp 1, xã Hòn Tre, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, nay là ấp 1, đặc khu Kiên Hải, tỉnh An Giang
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị M2 nên bà Đ, bà M2 phải liên đới chịu án phí nhưng bà Đ, bà M2 là người cao tuổi thuộc trường hợp không phải chịu án phí nên được miễn chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về chi phí tố tụng:

    Số tiền định giá là 5.000.000 đồng của Công ty TNHH một thành viên B1 và tiền trích đo bản vẽ là 704.160 đồng, tổng cộng là 5.704.160 đồng. Do không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Đ, Đặng Thị M2 phải chịu toàn bộ và nguyên đơn đã nộp xong không phải nộp thêm.

  4. Về quyền kháng cáo

    Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 1;
  • - Phòng THA DS khu vực 1;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 134/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đức-Mai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger