Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 134/2025/HS-ST

Ngày: 30/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Thắng
  2. Ông Phạm Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1971; HKTT: SỐ A C P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số A ngách B ngõ C, Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội: Nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc - Công ty TNHH X1; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); có vợ là Vũ Thị Thùy N (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị truy nã sau đó đầu thú, tạm giữ từ ngày 30/12/2024; tạm giam ngày 02/1/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố H. “Có mặt”.
  2. Trần Đình Q, sinh năm 1981; HKTT và chỗ ở: Thôn K, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình L (đã chết) và bà Phạm Thị H (đã chết); có vợ là Hoàng Thị H1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. “Vắng mặt”.
  3. Nguyễn Tô Đ, sinh năm 1976; HKTT và chỗ ở: TDP K, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Đỗ Thị Hồng T3 và có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân : 01 tiền án, Bản án số 48/2000/HSST ngày 14/4/2000 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Cưỡng đoạt tài sản. Nộp án phí ngày 07/10/2000. Bị cáo đã được xóa án tích; bị cáo tại ngoại. “Có mặt”.

- Bị hại: Anh Lê Xuân C1, sinh 1988, HKTT: Đội 6, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (đã chết); người đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964; HKTT: Đội 6, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (là mẹ đẻ của anh C1). “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 28/6/2023, Công ty TNHH X1 (gọi tắt là Công ty X1) được Sở kế hoạch đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với chủ sở hữu và người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Mạnh C. Công ty X1 có đăng ký địa điểm kinh doanh tại kho hàng Công ty X1 (Địa chỉ số D, ngõ C đường T, phường T, quận L, thành phố Hà Nội). Trong quá trình hoạt động Nguyễn Mạnh C đã tuyển dụng chị Trần Thị L1 (Sinh ngày: 03/6/1980; HKTT: Tập thể Trung đoàn 664, xã T, huyện T, Hà Nội) làm nhân viên kế toán, hành chính của Công ty. Ngoài ra, Công ty X1 cùng tuyển dụng anh Lê Xuân C1 (sinh năm: 1988; HKTT: Đội 6, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội); anh Vương Quảng T4 (Sinh năm: 1991; HKTT: Thôn L, xã V, huyện H, Lạng Sơn); anh Nguyễn Văn K (Sinh năm: 1980, HKTT: Xóm G, xã T, TP T, tỉnh Thái Nguyên) và Trần Đình Q (Sinh năm: 1981, HKTT: K, xã H, B, Quảng Bình) để là công nhân bốc vác. Trong đó, anh Lê Xuân C1 có vai trò là Tổ trưởng tổ nhân viên bốc vác chỉ đạo việc bốc xếp hàng hóa, thay mặt công nhân bốc vác nhận lương từ Công ty X1 sau đó chia lại cho công nhân bốc vác. Quá trình làm việc, nhân viên đều không có hợp đồng lao động. Ngày 28/7/2023, Nguyễn Mạnh C đại diện Công ty X1 ký kết hợp đồng thuê xe nâng nhãn hiệu MITSUBISHI, nước sản xuất Japan, số khung F19B – 50101; số máy S6S – 022881 với Nguyễn Tô Đại. Mục đích thuê xe để công nhân sử dụng nâng hạ hàng hóa. Trong đó, Nguyễn Tô Đ có nghĩa vụ bảo dưỡng định kỳ xe trong suốt thời gian thuê và Công ty X1 có nghĩa vụ kiểm tra xe trước khi nhận xe. Ngày 02/8/2023, Nguyễn Mạnh C đại diện Công ty X1 giao kết hợp đồng mua bán 01 cuộn inox 430, khối lượng 6222 kg với Công ty TNHH X2 do ông Tạ Duy H2 (Sinh năm: 1983; HKTT: P1203CT10, tổ A, phường Đ, L, Hà Nội - Giám đốc Công ty). Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 05/8/2023, Công ty TNHH X2 vận chuyển cuộn inox trên đến kho hàng Công ty X1 tại địa chỉ số D, ngõ C đường T, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. Sau khi Công ty TNHH X2 vận chuyển đến địa chỉ trên thì anh Lê Xuân C1 chỉ đạo công nhân đến vận chuyển cuộn tôn trên xuống kho bãi của Công ty X1. Lúc này, anh Vương Quảng T4 và anh Nguyễn Văn K đứng trong thùng Container đẩy cuộn tôn xuống càng xe nâng do anh Trần Đình Q (không có chứng chỉ vận hành xe nâng) điều khiển. Anh Lê Xuân C1 ngồi sau đuôi xe nâng chờ hạ tôn xuống đất để tháo dây cáp buộc tôn. Khi Q dùng phần thanh nâng để nâng cuộn tôn từ trên xe container thì Q đánh xe lùi lại. Tuy nhiên, Q vừa lùi lại thì phát hiện phần thủy lực bị trục trặc, không hạ cuộn tôn xuống được. Q đánh lái điều khiển xe nâng đi từ từ ra vị trí tập kết hàng, lúc này, cuộn tôn vẫn nâng ở trên cao. Quá trình di chuyển xe nâng do trọng lượng của cuộn tôn quá nặng, dẫn đến xe nâng bị mất phương hướng, khi đi được khoảng 3m thì bất ngờ bị tuột thủy lực, cuộn tôn văng ra khỏi càng xe làm cho xe nâng mất phương hướng, gây lật xe kéo đầu xe đâm xuống đất. phần đuôi xe bị bênh lên trời, anh C1 ngồi phía sau bị hất tung và ngã xuống đất. Phần đuôi xe đè vào người anh C1 làm cho anh C1 đã tử vong.

- Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Nguyễn Tô Đ: 01 hợp đồng thuê xe nâng ngày 28/7/2023 giữa Nguyễn Tô Đ và Nguyễn Mạnh C (lưu hồ sơ vụ án);

Thu giữ của Trần Đình Q: 01 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Trần Đình Q; 01 cuộn tôn inox 430 (khối lượng 6290kg); 01 xe nhãn hiệu MITSUBISHI, nước sản xuất Japan, số khung F19B – 50101; số máy S6S – 022881.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1019/968/KLGĐTT-TTPY ngày 29/8/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: Nạn nhân Lê Xuân C1 tử vong do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực, bụng rất nặng.

Tại Kết luận giám định số 6940/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận: Xe nâng nhãn hiệu MITSUBISHI, không đeo biển kiểm soát: Bề mặt kim loại tại vị trí đóng số khung bị han gỉ, xác định được số khung nguyên thủy của xe là: F19 – 50101; Số máy nguyên thủy: S6S – 022881.

Tại Công văn số 3963/ĐKVN-VAR ngày 24/10/2023 của Cục Đ1, xác định như sau:

- Chiếc xe nâng nêu trên đã được cấp Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng nhập khẩu số TK/15155 XMCD ngày 06/12/2013;

- Chiếc xe nâng nêu trên không có trong cơ sở dữ liệu quản lý về xe máy chuyên dùng trong khai thác sử dụng của Cục ĐKVN.

Ngoài ra, Cục Đ1 còn cung cấp thông số kỹ thuật cơ bản của chiếc xe nâng trên như sau: Sức nâng lớn nhất theo thiết kế: 3700kg; Chiều cao nâng lớn nhất: 3m; Vận tốc nâng lớn nhất: 31.2m/phút .

Cơ quan điều tra đã tiến hành cân cuộn tôn Inox có liên quan đến vụ tai nạn lao động nêu trên, xác định: trọng lượng tổng là 6290kg.

Tại Kết luận giám định số 7967/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H, kết luận:

  1. Chữ ký đứng tên Nguyễn Mạnh C trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Nguyễn Mạnh C trên mẫu so sánh (Ký hiệu M1) là chữ do cùng một người ký ra.
  2. Chữ viết dòng họ tên Nguyễn Tô Đ dưới chữ ký trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với chữ viết dòng họ tên Nguyễn Tô Đ dưới chữ ký trên mẫu so sánh (Ký hiệu M2, M3) là chữ do cùng một người ký ra.

Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Tô Đ trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Nguyễn Tô Đ trên mẫu so sánh (Ký hiệu M2, M3) là chữ do cùng một người ký ra hay không.

Tại Biên bản điều tra tai nạn lao động (chết do xe nâng đè) số 126/BBĐTTNLĐ đề ngày 01/02/2024 của Đoàn điều tra tai nạn lao động thành phố Hà Nội, kết luận những tổ chức, cá nhân có lỗi:

- Công ty TNHH X1:

  • Sử dụng xe nâng hàng dùng động cơ có tải trọng nâng từ 1000kg trở lên chưa được kiểm định kỹ thuật an toàn lao động theo quy định từ điều 31 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015;
  • Bố trí người lao động (ông Trần Đình Q) không có chứng chỉ vận hành xe nâng hàng, không được huấn luyện và cấp thẻ an toàn lao động vận hành (điều khiển) xe nâng hàng dùng động cơ có tải trọng nâng từ 1000kg trở lên (không có quyết định bằng văn bản) theo quy định tại QCVN25:2015/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với xe nâng hàng sử dụng động cơ, có tải trọng từ 1000kg trở lên;
  • Tại thời điểm xảy ra tai nạn, công ty chưa xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động theo quy định trong đó có quy định về an toàn khi sử dụng xe nâng hàng để bốc xếp, dỡ hàng hóa theo quy định tại Điều 15 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015;
  • Tại thời điểm xảy ra tai nạn, công ty chưa tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định tại Nghị định 44/2016/NĐ-CP ngày 15/05/2016 của Chính Phủ được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chỉnh Phủ;

- Ông Trần Đình Q: Không từ chối làm công việc vận hành xe nâng hàng khi không có chứng chỉ vận hành xe nâng hàng, không được huấn luyện và cấp thẻ an toàn lao động theo quy định; vận hành xe nâng hàng để nâng hàng quá tải trọng cho phép của xe nâng, đồng thời để ông C1 ngồi sau xe nâng trong quá trình nâng hàng dẫn đến tai nạn;

- Ông Lê Xuân C1, nạn nhân: Không nhận thức được nguy hiểm, nguy cơ xảy ra tai nạn, ngồi ở đuôi xe nâng hàng (là vị trí nguy hiểm) khi xe đang vận hành dẫn đến tai nạn cho bản thân.

Đoàn điều tra tai nạn lao động TP Hà Nội đề nghị:

- Cơ quan CSĐT - Công an quận L tiếp tục giải quyết vụ việc theo thẩm quyền;

- Công ty TNHH X1: Kiểm điểm trách nhiệm, xử lý kỷ luật cá nhân có lỗi trong vụ tai nạn lao động theo phân công, phân cấp của công ty và theo quy định của pháp luật lao động; Giải quyết chế độ tai nạn lao động cho thân nhân nạn nhân theo quy định tại Điều 38 Luật an toàn, vệ sinh lao động.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh C khai nhận: Bản thân C là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X1 (theo Giấy chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mã số doanh nghiệp: 0110401702). Tại biên bản ghi lời khai ngày 23/08/2023, C khai nhận C1 và Q làm nhiệm vụ nhân viên bốc vác hàng hoá tại kho hàng của Công ty TNHH X1, địa chỉ ngõ C T, phường T, L, Hà Nội với mức lương 8.000.000 đồng/tháng. Nhiệm vụ của C1 và Q là vận chuyển hàng hoá từ trên các xe tải, xe container xuống bãi tập kết và chuyển hàng từ bãi tập kết lên xe để vận chuyển đi nơi khác. Giữa Công ty X1 và C1, Q không có hợp đồng lao động. Chỉnh và Q làm việc tại Công ty T7 chưa được 1 tháng. Do thời gian khi xảy ra tai nạn, Công ty đang trong thời gian vận hành thử nên Công ty chưa ký hợp đồng lao động cũng như chưa mua bảo hiểm lao động đối với những người trên. Nội dung lời khai trên phù hợp với biên bản điều tra tai nạn lao động (chết người do bị xe nâng đè) số 126/BBĐTTNLĐ ngày 01/02/2024 của Đoàn Điều tra Tai nạn lao động thành phố H. Tuy nhiên, kể từ ngày 02/01/2025, tại các biên bản hỏi cung bị cáo, C thay đổi lời khai với nội dung sau: Công ty TNHH X1 mà C đứng tên là do Vũ Hữu T5 (Sinh ngày 21/05/1983; HKTT: Số A ngách E T, phường B, quận T, Hà Nội) rủ C thành lập. Tất cả những thoả thuận giữa C và T5 chỉ là thoả thuận miệng. Vai trò của Nguyễn Mạnh C tại Công ty là Giám đốc điều hành, quản lý hành chính và tham gia ký kết hợp đồng giữa Công ty với các đối tác khác. Người vận hành kho bãi tại ngõ C T, C không được biết. Bản thân C không thuê nhóm lao động bao gồm Lê Xuân C1 và Trần Đình Q. C không biết nhóm lao động trên là do ai thuê. C làm việc trực tiếp với Trần Thị L1 – nhân viên kế toán của công ty liên quan đến những hợp đồng, giấy tờ, tài liệu. Hợp đồng thuê xe nâng, hợp đồng thuê kho bãi và hợp đồng mua cuộn tôn I là do L1 soạn thảo và đưa cho C ký. Tuy nhiên, đối với chiếc xe nâng thì C chưa ký nhận bàn giao và chưa ký bàn giao xe nâng đó cho ai. Khi xảy ra vụ tai nạn nêu trên thì C không có mặt tại kho bãi, những hoạt động của nhân viên bốc vác trong bãi C không biết.

Trong giai đoạn truy tố và tại phiên tòa, Nguyễn Mạnh C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Bản thân Nguyễn Mạnh C là Giám đốc và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X1. Vũ Hữu T5 không tham gia bàn bạc và góp vốn thành lập Công ty TNHH X1 với Nguyễn Mạnh C. Vào khoảng tháng 06/2023, C nói chuyện và muốn nhờ T5 sử dụng địa chỉ nhà (số A ngách E T, phường B, T, Hà Nội) để làm địa chỉ trụ sở Công ty TNHH X1 do C làm Giám đốc). Do là bạn bè xã hội với nhau nên T5 đồng ý. Tại địa chỉ nhà của T5 thì công ty không đặt văn phòng cũng như không có nhân viên làm việc. Trong quá trình Công ty hoạt động Nguyễn Mạnh C đã tuyển dụng Trần Thị L1 làm nhân viên kế toán, hành chính của công ty. Ngoài ra, Công ty TNHH X1 cùng tuyển dụng anh Lê Xuân C1, anh Vương Quảng T4; anh Nguyễn Văn K; anh Trần Đình Q để là công nhân bốc vác nhưng không có hợp đồng lao động. Các công nhân này đều không có chứng chỉ vận hành xe nâng hàng, không được huấn luyện và cấp thẻ an toàn lao động vận hành (điều khiển) xe nâng hàng dùng động cơ có tải trọng nâng từ 1000kg trở lên. Trong số công nhân bốc vác, Lê Xuân C1 có vai trò là tổ trưởng trong tổ nhân viên bốc vác có vai trò chỉ đạo việc bốc xếp hàng hóa, thay mặt công nhân bốc vác nhận lương từ Công ty TNHH X1 sau đó chia lại cho công nhân bốc vác. Ngày 05/8/2023, nhóm công nhân bốc vác tiến hành vận chuyển cuộn inox do Công ty X1 mua của Công ty X2 do sử dụng xe nâng quá tải trọng nên đã xảy ra tai nạn như trên.

Tại Cơ quan điều tra bị can Trần Đình Q, Nguyễn Tô Đ khai nhận như trên. Lời khai của các bị can phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 48/CT-VKS-LB ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh C và Trần Đình Q về tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự; Nguyễn Tô Đ về tội: “Đưa vào sử dụng xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 262 Bộ luật hình sự; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 18 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đình Q từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 262; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tô Đại T6 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe nâng là tài sản của bị cáo Nguyễn Tô Đại .

Về dân sự: Không phải giải quyết.

Ý kiến của các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận L, thành phố Hà Nội; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng; kết luận giám định; biên bản điều tra tai nạn lao động; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 05/8/2023, tại kho hàng Công ty TNHH X1 có địa chỉ số D, ngõ C đường T, phường T, quận L, thành phố Hà Nội:

- Bị cáo Nguyễn Mạnh C có hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động (đưa vào sử dụng xe nâng hàng dùng động cơ có tải trọng nâng từ 1000kg trở lên chưa được kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; bố trí người lao động - Trần Đình Q không có chứng chỉ vận hành xe nâng hàng, không được huấn luyện và cấp thẻ an toàn lao động vận hành (điều khiển) xe nâng hàng dùng động cơ có tải trọng nâng từ 1000kg trở lên) vi phạm quy định tại Điều 7, Điều 31 Luật an toàn, vệ sinh lao động và các mục 3.6.5, mục 3.6.7 quy định tại QCVN25:2015/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với xe nâng hàng sử dụng động cơ, có tải trọng từ 1000kg trở lên. Hậu quả: anh Lê Xuân C1 tử vong.

- Bị cáo Trần Đình Q có hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động (không từ chối làm công việc vận hành xe nâng hàng khi không có chứng chỉ vận hành xe nâng hàng, không được huấn luyện và cấp thẻ an toàn lao động theo quy định; vận hành xe nâng hàng để nâng hàng quá tải trọng cho phép) vi phạm điểm đ Khoản 1 Điều 6 Luật an toàn, vệ sinh lao động và các mục 1.3.2; mục 3.6.4.3; mục 3.6.4.4 của QCVN25:2015/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với xe nâng hàng sử dụng động cơ, có tải trọng từ 1000kg trở lên gây hậu quả anh Lê Xuân C1 tử vong.

- Bị cáo Nguyễn Tô Đại Đ có hành vi cho thuê xe nâng hàng để sử dụng nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký, đăng kiểm, kiểm định an toàn kỹ thuật xe nâng hàng vi phạm quy định tại Thông tư 22/2019/TT-BGTVT ngày 12/6/2019 quy định về đăng ký xe máy chuyên dùng; Thông tư số 89/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 quy định về kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe máy chuyên dùng và mục 4.2.1 của QCVN25:2015/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với xe nâng hàng sử dụng động cơ, có tải trọng từ 1000kg trở lên. Hậu quả: anh Lê Xuân C1 tử vong.

Vì vậy, bị cáo Nguyễn Mạnh C và Trần Đình Q phạm tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự; Nguyễn Tô Đ phạm tội: “Đưa vào sử dụng xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 262 Bộ luật hình sự;

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về an toàn lao động; vi phạm quy định về an toàn kỹ thuật khi đưa vào sử dụng xe máy chuyên dùng ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe người khác; gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo C, bị cáo Q chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Đ có 01 tiền án về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định của pháp luật đã được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả (tại phiên tòa bị cáo C xác nhận bị cáo Q và Đ cũng đã cùng góp tiền để cùng bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo C đầu thú; đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; người bị hại cũng có lỗi để xẩy ra hậu quả. Quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét các bị cáo phạm tội trong lĩnh vực an toàn lao động và an toàn giao thông nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, cải tạo các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[3]. Về vật chứng:

- Đối với 01 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Trần Đình Q (thu giữ của Trần Đình Q): Quá trình điều tra xác định, các giấy tờ trên thuộc sở hữu hợp pháp của Trần Đình Q và không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L đã trao trả các giấy tờ trên cho Trần Đình Q là phù hợp.

- Đối với 01 cuộn tôn inox 430 - khối lượng 6290kg (thu giữ của Trần Đình Q): Quá trình điều tra xác định cuộn tôn trên là tài sản của Công ty TNHH X1. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L đã trao trả cho Công ty X1 là có căn cứ.

- Đối với 01 xe nâng nhãn hiệu MITSUBISHI, nước sản xuất Japan, số khung F19B – 50101; số máy S6S – 022881 (thu giữ của Trần Đình Q): Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Tô Đ mua chiếc xe trên từ năm 2013 của Công ty TNHH T8 (Địa chỉ: Số A ngõ E N, L, Hà Nội) với giá 500.000.000 đồng. Tuy nhiên sau đó, Đ không làm thủ tục đăng ký, đăng kiểm, kiểm định an toàn kỹ thuật theo quy định tại QCVN25:2015/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với xe nâng hàng sử dụng động cơ, có tải trọng từ 1000kg trở lên nhưng vẫn tiến hành cho Công ty TNHH X1 thuê để sử dụng nâng hạ hàng hóa vào việc nâng hàng gây hậu quả chết 01 người. Xét thấy đây là phương tiện liên quan đến vụ án lẽ ra tịch thu sung quỹ Nhà nước nhưng đây là phương tiện để để đảm bảo cuộc sống gia đình bị cáo nên trả lại cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

[4]. Về dân sự: Đại diện bị hại nhận tiền bồi thường của bị cáo và không có yêu cầu đề nghị gì. Nên Tòa án không phải giải quyết.

[5]. Về vấn đề khác:

Đối với Trần Thị L1: Quá trình điều tra xác định, L1 là nhân viên của Công ty TNHH X1 phụ trách việc kế toán, hành chính, biên soạn hợp đồng giữa Công ty và các bên liên quan. L1 không tham gia quản lý điều hành Công ty TNHH X1, chỉ làm việc dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Mạnh C về kế toán, hành chính. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý đối với Trần Thị L1 về tội Vi phạm quy định về an toàn lao động quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh C và Trần Đình Q phạm tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”; bị cáo Nguyễn Tô Đ phạm tội: “Đưa vào sử dụng xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đình Q 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 262; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tô Đ 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Đ: 01 xe nâng nhãn hiệu MITSUBISHI, nước sản xuất Japan, số khung F19B – 50101; số máy S6S – 022881.

Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 17/3/2025 giữa Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo (C, Đ) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo Q và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Hà Nội;
  • - VKSND, THADS q. Long Biên;
  • - Công an TP: Hà Nội;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hồng Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về an toàn lao động

  • Số bản án: 134/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về an toàn lao động
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger