Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 134/2025/HSST

Ngày: 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Hòa
  • 2. Ông Huỳnh Thế Cần
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 120/2025/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Đức H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Đ.
  2. Sinh năm 1990, tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: 611, tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Văn N, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Phạm Thị D, sinh năm 1963. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai; có vợ Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1995 và có 02 người con (sinh năm 2014 và năm 2016).

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giam từ ngày 12/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Phan Văn K. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Kít.
  4. Sinh năm 1991, tại Hải Dương.

    Nơi đăng ký thường trú: Thôn Phong Nội, xã Bình Dân, huyện Kim Thanh, tỉnh Hải Dương.

    Nơi ở: Khu 5, ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phan Văn Q, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Đầu thú ngày 18/9/2024 và tạm giữ từ ngày 19/9/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 1839/LTG ngày 27/9/2024 của CQCSĐT Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Nguyễn Thành Đ1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Đ1 gỗ.
  6. Sinh năm 1986, tại Tuyên Quang.

    Đăng ký thường trú: Thôn Cương Thôn, xã Tràng An, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

    Nơi ở: Tổ 3, khu phố Tân Cang, phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị N1, sinh năm 1968. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Đào Thị H3, sinh năm 1993 và có 02 người con (con sinh năm 2012 và năm 2018).

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Đầu thú ngày 18/9/2024 và tạm giữ từ ngày 19/9/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 1838/LTG ngày 27/9/2024 của CQCSĐT Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1988;

Địa chỉ: A Đường Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Hành vi của Lê Đức H:
  2. Lê Đức H (Đ) là người sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (hàng đá). Để có tiền tiêu xài và ma tuý sử dụng, H nảy sinh ý định mua ma tuý về bán cho người nghiện. Từ ngày 08/9/2024 đến ngày 13/9/2024, H đã 02 lần đi đến khu vực cầu N thuộc quận H, thành phố Hồ Chí Minh, gặp và mua của người tên H4 (không rõ nhân thân lai lịch) mỗi lần 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 1.000.000₫ (Một triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý, H đem về nhà số F, tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, lấy 01 phần để sử dụng, phần còn lại bán cho Phan Văn K, bằng cách: Khi cần mua ma tuý thì K trực tiếp gọi điện cho H, H đồng ý và hẹn K đến gần khu D thuộc khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán ma tuý. Với cách thức mua bán như trên, vào khoảng 15 giờ ngày 10/9/2024 và khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, tại khu du lịch V thuộc địa chỉ nêu trên, H đã 02 lần bán mỗi lần 01 gói ma tuý cho K với giá từ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Ngày 12/11/2024, Hậu bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt giữ.

  3. Hành vi của Nguyễn Thành Đ1 và Phan Văn K:
  4. Phan Văn K và Nguyễn Thành Đ1 là bạn và đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy (hàng đá). Từ ngày 10/9/2024 đến ngày 15/9/2024, K và Đ1 đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý như sau:

    • - Lần thứ 1: Vào khoảng 15 giờ ngày 10/9/2024, K đến phòng trọ của Đ1 tại tổ C, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rủ Đ1 mua ma tuý về sử dụng, Đ1 đồng ý. Đ1 đưa cho K 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và giao xe mô tô biển số 6251-3043 cho K đi mua ma tuý. Sau đó, K gọi điện cho H để mua ma tuý. K đi đến gần khu D thuộc khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để mua 01 gói ma tuý với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, K đem về phòng trọ của Đ1 ở địa chỉ nêu trên, K lấy 01 nỏ thuỷ tinh, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa chế thành bộ dụng cụ “nỏ” để sử dụng ma tuý. K lấy gói ma tuý vừa mua đổ vào “nỏ” và dùng bật lửa (hộp quẹt ga) đốt nóng rồi K và Đ1 cùng nhau sử dụng.
    • - Lần thứ 2: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, K tiếp tục đến phòng trọ của Đ1 ở địa chỉ trên, rủ Đ1 mua ma tuý về sử dụng. Đ1 đưa cho K 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và giao xe mô tô biển số 62S1-3043 cho K đi mua ma tuý. Với cách thức mua bán và tại địa điểm như trên, K mua của H 01 gói ma tuý với giá 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 “nỏ” thuỷ tinh. Sau khi mua được ma tuý, K đem về phòng trọ của Đ1 đổ vào “nỏ” và dùng bật lửa (hộp quẹt ga) đốt nóng rồi K và Đ1 cùng nhau sử dụng.

    Đến khoảng 10 giờ ngày 18/9/2024, khi K và Đ1 đang ở phòng trọ của Đ1 thì bị Công an phường P kiểm tra, phát hiện thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma tuý có bám dính chất màu trắng. K và Đ1 đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên.

    * Vật chứng thu giữ:

    • + 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 nỏ thuỷ tinh bị vỡ có dính chất màu trắng, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa) và 01 bật lửa (hộp quẹt gas).
    • + 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1814 màu xanh đen số thuê bao: 0986211585, số Imel: 866815046218719 của Phan Văn K sử dụng liên lạc mua ma tuý.
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu vàng, số Imel: 356116091100119 của Nguyễn Thành Đ1 không liên quan đến hành vi phạm tội.
    • + 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 6251-3043, số khung RLCS5C6408Y030920, số máy 5C64-030920 thu giữ của Nguyễn Thành Đ1. Qua xác minh: Xe mô tô 6251-3043 do ông Nguyễn Hữu T1 (sinh năm 1972, cư trú tại ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An) đứng tên đăng ký. Ông T1 khai: Vào khoảng tháng 11/2018, ông T1 đã bán xe mô tô trờ cho chị Nguyễn Thị Huyền T (em gái của Đ1 - sinh năm 1988, cư trú tại thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) nhưng không làm thủ tục sang tên. Đ1 và chị T khai cho Đ1 mượn xe trên đi công việc và chị T không biết Đ1 sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả xe lại cho chị T quản lý.

    * Tại kết luận giám định số 1868/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

    “Mẫu chất màu trắng bám dính trong nó thuỷ tinh được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

    Toàn bộ mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

    * Kết quả xét nghiệm chất ma tuý: Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 và Lê Đức H dương tính với ma tuý đá.

    Tại cáo trạng số 152/CT-VKSBH-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo:

    Lê Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

    Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

    Tại phiên toà, các bị cáo Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 khai nhận hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là đúng.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo như sau:

    • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
    • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 tự giác đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt: Lê Đức H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt:

    Phan Văn K, từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;

    Nguyễn Thành Đ1; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;

    Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

    Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

    - Về án phí: Bị cáo Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
  2. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

  3. [2] Về tội danh và khung hình phạt:
  4. Xét thấy, lời khai của bị cáo Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:

    Vào khoảng 15 giờ ngày 10/9/2024 và 18 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, tại khu vực gần Khu D thuộc khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Đức H đã có hành vi 02 lần bán mỗi lần 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) cho Phan Văn K với giá từ 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) đến 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

    Vào ngày 10/9/2024 và ngày 15/9/2024, tại nhà không số thuộc tổ C, khu phố T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Thành Đ1 thuê trọ, Phan Văn K và Nguyễn Thành Đ1 có hành vi 02 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Kết quả xét nghiệm chất ma tuý: Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 và Lê Đức H dương tính với ma tuý đá.

    Lê Đức H là người thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý.

    Phan Văn K là người rủ rê, đi mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Nguyễn Thành Đ1 là người cung cấp tiền và địa điểm thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Hành vi của bị cáo Lê Đức H nêu trên, trên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên”. Bị cáo Phan Văn KNguyễn Thành Đ1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên”.

    Như vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

  5. [3] Về tính chất, mức độ hành vi:
  6. Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, mà còn là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm trong sự gây tác hại cho sức khỏe của bản thân và người khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

  7. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
  8. Không có.

  9. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  10. Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 tự giác đầu thú, nên các bị cáo cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

  11. [6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
  12. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 nỏ thuỷ tinh (trong 01 gói niêm phong số 1868 ngày 19/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ), 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa. Là phương tiện, dụng cụ dùng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
    • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1814 màu xanh đen số thuê bao: 0986211585, số Imel: 866815046218719 của Phan Văn K sử dụng liên lạc mua ma tuý, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
    • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu vàng, số Imel: 356116091100119 của Nguyễn Thành Đ1 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại Nguyễn Thành Đ1.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

    • + Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 6251-3043, số khung RLCS5C6408Y030920, số máy 5C64-030920 thu giữ của Nguyễn Thành Đ1. Qua xác minh, chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Huyền T (em gái của Đ1). Chị T cho Đ1 mượn xe trên đi công việc và chị T không biết Đ1 sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả xe lại cho chị T, nên không đặt ra xem xét.
  13. [7] Đối với đối tượng tên H4 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma tuý cho Lê Đức H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
  14. [8] Về án phí:
  15. Bị cáo Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  16. [9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.
  17. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Tuyên bố Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  3. Về hình phạt:
  4. - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Lê Đức H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.

    - Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Phan Văn K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2024.

    Xử phạt: Nguyễn Thành Đ1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2024.

  5. Về xử lý vật chứng:
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 nỏ thuỷ tinh (trong 01 gói niêm phong số 1868 ngày 19/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ), 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu VIVO 1814 màu xanh đen số thuê bao: 0986211585, số I: 866815046218719 của Phan Văn K.
    • - Trả lại cho Nguyễn Thành Đ1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus màu vàng, số I: 356116091100119.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

  7. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  8. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    + Buộc bị cáo Lê Đức H, Phan Văn K, Nguyễn Thành Đ1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng
  • Nai – Phân trại tạm giam khu vực
  • Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 134/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 15 giờ ngày 10/9/2024 và 18 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, tại khu vực gần Khu Du lịch Vườn Xoài thuộc khu phố Tân Cang, phường Phước Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, Lê Đức Hậu đã có hành vi 02 lần bán mỗi lần 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) cho Phan Văn Kiên với giá từ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đến 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Vào ngày 10/9/2024 và ngày 15/9/2024, tại nhà không số thuộc tổ 3, khu phố Tân Cang, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Thành Đô thuê trọ, Phan Văn Kiên và Nguyễn Thành Đô có hành vi 02 lần tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý: Phan Văn Kiên, Nguyễn Thành Đô và Lê Đức Hậu dương tính với ma tuý đá. Lê Đức Hậu là người thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý. Phan Văn Kiên là người rủ rê, đi mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Nguyễn Thành Đô là người cung cấp tiền và địa điểm thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo Lê Đức Hậu nêu, trên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên”. Bị cáo Phan Văn Kiên và Nguyễn Thành Đô đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger