|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2025/HS-ST
Ngày: 17-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng
2. Ông Nguyễn Đình Vụ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2025/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Bá H
, sinh năm: 1984; Nơi ĐKTT: SN H T, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà I H, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Bá H1, sinh năm 1951 và bà: Nguyễn Thị B (chết); Có vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 23/8/2000 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Ngày 23/9/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1981; Địa chỉ: SN F D, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1988; Địa chỉ: SN D T, phường N, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Chị Lê Thị C, sinh năm: 1977; Địa chỉ: SN D C, phường L, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Chị Lương Thị K, sinh năm: 1972; Địa chỉ: SN G H, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
- Bà Trương Thị L, sinh năm: 1968; Địa chỉ: SN G H, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/11/2024, Lê Bá H đã sử dụng tiền của mình cho nhiều người trên địa bàn thành phố T vay tiền với lãi suất cao (lãi suất từ 4.000 đồng đến 6.666đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất từ 146% đến 243%/năm, cao gấp từ 7,3 đến 12,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định), với hình thức vay thăm trả góp, nhằm thu lợi bất chính, cụ thể:
1. Cho chị Nguyễn Thị P vay 10 gói vay, cụ thể:
- Gói thứ 1: Ngày 20/12/2023, H cho chị P vay 10.000.000 đồng, H thu trước 2.000.000đ tiền lãi và yêu cầu chị P trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Đến ngày 19/01/2024, P trả hết 30 ngày vay tương ứng 6.000.000đ tiền gốc và xin đảo gói mới.
- Gói thứ 2: Ngày 19/01/2024, H đảo gói vay thứ 1 thành gói vay thứ 2 với số tiền gốc 10.000.000đ. Do chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên chỉ được nhận số tiền là 4.000.000đ. Chị P phải trả tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 20/01/2024. Đến ngày 19/02/2024, chị P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 3: Ngày 19/02/2024, H đảo gói thứ 2 thành gói vay thứ 3 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên thực nhận được 4.000.000đ. H yêu cầu chị P phải trả tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 20/02/2024. Đến ngày 20/03/2024, chị P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 4: Ngày 20/3/2024, H đảo gói thứ 3 thành gói vay thứ 4 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên được nhận 4.000.000đ. Chị P phải trả tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 21/3/2024. Đến ngày 19/4/2024, chị P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 5: Ngày 19/4/2024, H đảo gói thứ 4 thành gói vay thứ 5 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên thực nhận được 4.000.000đ. H yêu cầu P phải trả số tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 20/4/2024. Đến ngày 19/5/2024, chị P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 6: Ngày 19/5/2024, H đảo gói thứ 5 thành gói vay thứ 6 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên thực được nhận số tiền 4.000.000đ. H yêu cầu chị P phải trả 10.000.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 20/5/2024. Đến ngày 18/6/2024, chị P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 7: Ngày 18/6/2024, H đảo gói thứ 6 thành gói vay thứ 7 với số tiền gốc 10.000.000đ. Do P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên được nhận 4.000.000đ. H yêu cầu chị P phải trả 10.000.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 19/6/2024. Đền ngày 18/7/2024, P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 8: Ngày 18/7/2024, H đảo gói thứ 7 thành gói vay thứ 8 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên được nhận 4.000.000đ. H yêu cầu P phải trả 10.000.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 19/7/2024. Đến ngày 17/8/2024, P thanh toán cho Hưng 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 9: Ngày 17/8/2024, H đảo gói thứ 8 thành gói vay thứ 9 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên được nhận 4.000.000đ. Hưngyêu cầu chị P phải trả 10.000.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 18/8/2024. Đến ngày 16/9/2024, chị P thanh toán cho H 30 ngày vay với số tiền gốc 6.000.000đ và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 10: Ngày 16/9/2024, H đảo gói thứ 9 thành gói vay thứ 10 với số tiền gốc 10.000.000đ. Chị P còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên thực nhận được số tiền 200.000đ, kể từ ngày 17/9/2024. Đến ngày 05/11/2024, chị P thanh toán cho 50 ngày vay với số tiền gốc 10.000.000đ và kết thúc gói vay.
Đối với các gói vay này, lãi suất là 6.666đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất 243%/năm (cao gấp 12,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định). Tổng số tiền lãi đã thu của 10 gói vay là 20.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.764.383 đồng, số tiền thu lời bất chính là 18.235.617 đồng.
2. Cho chị Nguyễn Thị H2 vay 02 gói:
- Gói thứ nhất: Ngày 20/3/2024, H cho chị H2 vay 20.000.000 đồng dưới hình thức vay thăm, H thu trước 4.000.000 đồng tiền lãi và yêu cầu chị Hoa trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng. Đến ngày 08/5/2024, chị H2 đã thanh toán hết cho H 50 ngày vay với số tiền gốc 20.000.000 đồng và kết thúc gói vay.
- Gói thứ 2: Ngày 20/6/2024, cũng với hình thức trên, H cho chị H2 vay 20.000.000 đồng, thu trước 4.000.000 đồng tiền lãi và yêu cầu chị H2 trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng. Đến ngày 08/8/2024, chị Hoa thanh toán hết cho H 50 ngày vay với số tiền gốc 20.000.000đ và kết thúc gói vay.
Đối với gói vay này lãi suất 4.000 đồng /1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất 146% /năm, cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Tổng số tiền lãi đã thu của 02 gói vay là 8.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.095.890 đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.904.110 đồng.
3. Cho chị Lê Thị C vay 02 gói:
- Gói thứ 1: Ngày 21/06/2024, H cho chị C vay 20.000.000đ dưới hình thức vay thăm, H thu trước 4.000.000đ tiền lãi và yêu cầu chị Chung trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng. Đến ngày 09/8/2024, chị C thanh toán hết cho H 50 ngày vay với số tiền gốc 20.000.000 đồng và kết thúc gói vay.
- Gói thứ 2: Ngày 06/9/2024, H cho chị C vay 20.000.000 đồng, H thu trước 4.000.000 đồng tiền lãi và yêu cầu chị C trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 400.000 đồng. Đến ngày 25/10/2024, chị C đã thanh toán hết cho H 50 ngày vay với số tiền gốc 20.000.000đ và kết thúc gói vay.
Đối với các gói vay này, lãi suất 4.000 đồng /1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất 146%/năm, cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Tổng số tiền lãi đã thu của 02 gói vay là 8.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.095.890 đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.904.110 đồng.
4. Cho chị Lương Thị K vay 02 gói:
- Gói thứ 1: Ngày 02/7/2024, H cho chị K vay 20.000.000đ dưới hình thức vay thăm, H thu trước 4.000.000đ tiền lãi và yêu cầu chị K trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 400.000đ. Đến ngày 31/7/2024 chị K trả hết 30 ngày vay tương ứng 12.000.000đ tiền gốc và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 2: Ngày 31/7/2024, H đảo gói thứ nhất thành gói vay thứ 2 với số tiền gốc 20.000.000đ. Chị K còn nợ 8.000.000đ tiền gốc của gói vạy trước và bị thu 4.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên thực được nhận số tiền 8.000.000đ. H yêu cầu chị K phải trả tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 400.000đ, kể từ ngày 01/8/2024. Đến ngày 19/9/2024, chị K đã thanh toán hết 50 ngày vay cho H tương ứng 20.000.000đ tiền gốc và kết thúc gói vay.
Đối với các gói vay này, lãi suất là 6.666 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất 243%/năm (cao gấp 12,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định). Tổng số tiền lãi đã thu của 02 gói vay là 8.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.095.890 đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.904.110 đồng.
5. Cho bà Trương Thị L vay 04 gói:
- Gói thứ 1: Ngày 03/5/2024, H cho bà L vay 10.000.000đ dưới hình thức vay thăm trả góp, H thu trước 2.000.000đ tiền lãi và yêu cầu bà L trả gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ. Đến ngày 01/6/2024, bà L trả hết 30 ngày vay tương ứng 6.000.000 đồng tiền gốc và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 2: Ngày 01/6/2024, H đảo gói vay thứ nhất thành gói vay thứ 2 với số tiền gốc 10.000.000 đồng. Do bà L còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu trước 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên bà L thực nhận được 4.000.000đ. Bà L phải trả tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 02/6/2024. Đến ngày 01/7/2024, bà L đã thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 6.000.000đ tiên gốc và xin đảo gói vay mới.
- Gói thứ 3: Ngày 01/7/2024, H đảo gói thứ 2 thành gói vay thứ 3 với số tiền gốc 10.000.000đ. Bà L còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên bà L thực được nhận 4.000.000đ. H yêu cầu bà L phải trả tiền gốc trong thời gian 50 ngày, mỗi ngày 200.000đ, kể từ ngày 02/7/2024. Đến ngày 31/7/2024, bà L thanh toán hết 30 ngày vay tương ứng 6.000.000đ tiền gốc và xin đảo gói mới.
- Gói thứ 4: Ngày 31/7/2024, H đảo gói thứ 3 thành gói vay thứ 4 với số tiền gốc 10.000.000đ. Bà L còn nợ 4.000.000đ tiền gốc của gói vay trước và bị thu 2.000.000đ tiền lãi của gói vay mới nên bà L được nhận số tiền 4.000.000đ. H yêu cầu bà L phải trả 10.000.000đ tiền gốc trong thời gian 50 ngay, mỗi ngay 200.000đ, kể từ ngày 01/8/2024. Đến ngày 19/9/2024, bà L thanh toán hết 50 ngày vay tương ứng 10.000.000đ tiền gốc và kết thúc gói vay.
Đối với các gói vay này, lãi suất là 6.666 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất 243%/năm (cao gấp 12,2 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định). Tổng số tiền lãi đã thu của 04 gói vay là 8.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 767.123 đồng, số tiền thu lời bất chính là 7.232.877 đồng.
Ngày 21/11/2024, Lê Bá H đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Ngày 21/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T tiến hành khám xét nơi ở đối với Lê Bá H ở địa chỉ số nhà I H, phường Đ, thành phố T. Kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Về phần dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị H2, Lê Thị C, Lượng Thị K1 và bà Trương Thị L không yêu cầu Lê Bá H phải trả lại số tiền lãi thu lời bất chính đã thu.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết quả điều tra đã xác định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đầy đủ lời khai.
Cáo trạng số 68/CT- VKSTPTH ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Bá H về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Bá H từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 40.000.000đ - 50.000.000đ.
Về biện pháp tư pháp:
- Truy thu số tiền lãi bị cáo thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự 5.819.176 đồng.
- Truy thu số tiền bị cáo dùng để cho vay 80.000.000đ.
- Đối với số tiền thu lời bất chính 46.186.824 đồng những người vay không yêu cầu bị cáo phải trả nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh bản thân bị cáo đang điều trị HIV/AIDS, không có việc làm thu nhập, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên từ ngày 20/12/2023 đến ngày 05/11/2024 Lê Bá H đã cho 05 khách hàng vay tiền với lãi suất cao dưới hình thức vay thăm trả góp, cắt tiền lãi trước với mức lãi suất từ 4.000đ đến 6.666đ/1 triệu/ 1 ngày, tương ứng lãi suất từ 146% đến 243%/năm (cao gấp từ 7,3 đến 12,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 BLDS. Tổng số tiền H sử dụng cho vay là 80.000.000 đồng; tổng số tiền lãi người vay đã trả cho H là 52.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa H được thu theo quy định là 5.819.176 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 46.186.824 đồng.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Bá H phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tính chất vụ án: Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và do nhu cầu cần vay tiền của một số cá nhân, bị cáo đã cho vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức đầy đủ pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi và thái độ xem thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội ít nghiêm trọng, đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân đã 02 lần bị xử phạt tù về các tội khác nhau, nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS là phù hợp.
Bị cáo không có công việc, thu nhập, hiện nay đang điều trị HIV/AIDS nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này bị cáo phạm tội, có thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo để nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 201 của BLHS.
[6]. Về biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017, Lê Bá H đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là 5.819.176 đồng. Xác định đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền lãi này để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu lời bất chính: 46.186.824 đồng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả nên không xem xét.
[7]. Về dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi thu lời bất chính đã thu nên HĐXX không xem xét.
[8]. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36; Điều 47 của BLHS; Khoản 1, 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Bá H số tiền 40.000.000 đồng để thu nộp Ngân sách nhà nước.
Về biện pháp tư pháp:
Truy thu từ bị cáo Lê Bá H số tiền dùng vào việc phạm tội 80.000.000 đồng.
Truy thu từ bị cáo Lê Bá H số tiền do phạm tội mà có 5.819.176 đồng để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Về dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi thu lời bất chính đã thu nên HĐXX không xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 134/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 134/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
