Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HS-PT

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh;

Bà Bùi Thị Ẩn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Trương Ngọc Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXPT-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Thông báo dời ngày xét xử số 80/2024/TB-HS ngày 24/9/2024, do bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trần Tuấn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ A thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị T; Có vợ Nguyễn Thị Trúc L (Đã ly hôn), có hai con, con lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Bản án số 200/HSST ngày 29/8/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng 14 ngày về tội “Chống người thi hành công vụ”; Bản án số 237/HSST ngày 18/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 03 năm 05 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/6/2016. Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2019 đến ngày 14/3/2020. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt

  2. Nguyễn T1, sinh năm 1980 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ A Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; Có vợ Đinh Thị Thanh T3, có 03 con lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2019 đến ngày 14/3/2020. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  3. Nguyễn Anh V, sinh năm 1984 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phước Q (Đã chết) và bà Mai Thị L1 (Đã chết); Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 08/HSST ngày 30/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án; Bản án số 07/HSST ngày 02/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2011. Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án; Ngày 01/02/2016 bị cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện S, tỉnh Phú Yên khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” đến ngày 25/4/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện S, tỉnh Phú Yên đình chỉ điều tra đối với bị can.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  4. Vũ Thị Minh T4, sinh năm 1964 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: C T, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn B (Đã chết) và bà Đinh Thị C (Đã chết); Có chồng Tôn Thất Q1 (Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1995. Tiền án, Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Quyết định số 2470/QĐ-UB ngày 24/7/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh K về việc đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi chứa chấp cờ bạc; Quyết định số 82/QĐ-XPHC ngày 10/10/2007 bị Công an tỉnh K xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa; Bản án số 43/HSST ngày 25/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Eakar, tỉnh ĐăkLăk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong án phí của bản án.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  5. Đỗ Thị H1, sinh năm 1976 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ C Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Đức H2 (Đã chết) và bà Lê Thị N; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002 và nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án, Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Quyết định số 90/QĐHC ngày 21/5/2010 của Công an tỉnh K xử phạt 250.000 đồng về hành vi đánh bạc.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  6. Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1986, tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Trần Thị L3; Tiền án, Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Bản án số 77/HSST ngày 18/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và phạt bổ sung 3.000.000 đồng, buộc nộp lại 100.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  7. Trần Ngọc A, sinh năm 1966 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T5 (Đã chết) và bà Lê Thị S (Đã chết); Có vợ Lê Thị Thanh N1, có 03 con lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 10/HSST ngày 24/12/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng và phạt bổ sung 1.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 200 bộ luật hình sự năm 1985. Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  8. Nguyễn Quốc T6, sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị M1; có vợ Mai Thị Thu H4, có 03 con lớn nhất sinh năm 2006 và nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án, Tiền sự: không;

    Nhân thân: Bản án số 44/HSPT ngày 03/6/2004 của tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” và 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2009. Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  9. Võ Ngọc Ú, sinh năm 1979 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ T7 (Đã chết) và bà Huỳnh Thị N2 (Đã chết); Có vợ Nguyễn Thị T8; Tiền án, Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Bản án số 05/2021/HSST ngày 17/12/2021 của Tòa án quân sự Quân khu 7 xử phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2022.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  10. Hồ Thị T9, sinh năm 1970 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: 1 T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn K (Đã chết) và bà Võ Thị K1; Tiền sự: Không;

    Tiền án: Bản án số 275/HSST ngày 14/12/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và phạt bổ sung 3.000.000 đồng, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 04/01/2021.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  11. Đặng Thị Kim L4, sinh ngày 10/6/1954 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: D T, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Q2 (Đã chết) và bà Đào Thị Xuân H5 (Đã chết); Có chồng Nguyễn Văn T10, có 02 con, lớn nhất sinh năm 1980 và nhỏ nhất sinh năm 1981; Tiền sự: Không;

    Tiền án: Bản án số 17/HSST ngày 24/4/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang – T xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội “Đánh bạc”. Đã nộp án phí của bản án vào ngày 18/9/2020.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  12. Trương Thị Tuyết A1, sinh năm 1974 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn M2 (Đã chết) và bà Trần Thị L5 (Đã chết); Có chồng Lê Thành T11, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền sự: Không;

    Tiền án: Bản án số 24/HSST ngày 23/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng và phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chưa chấp hành hình phạt bổ sung của bản án.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  13. Trần Thị Kim N3, sinh năm 1993 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn G, xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần D và bà Phạm Thị S1; Có chồng Thái Văn B2, có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  14. Lương Thị Thu H6, sinh năm 1986 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: D xóm M, thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương H7 và bà Hà Thị Thúy V1; Có chồng Nguyễn Văn S2, có 01 con sinh năm 2018. Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  15. Nguyễn Thị Ánh T12, sinh năm 1988, tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L6 và bà Trần Thị Ngọc K2; Có chồng Nguyễn Minh C1, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  16. Nguyễn Thị Diễm L7, sinh năm 1970 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn G (Đã chết) và bà Nguyễn Thị B3 (Đã chết); Có chồng Lê Văn S3, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  17. Lê Thị L8, sinh năm 1977 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: 1 Xóm C, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi đăng ký tạm trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê N4 và bà Nguyễn Thị L9; có chồng Trần Ngọc L10, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  18. Huỳnh Thị Thanh V2, sinh năm 1979 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Ngọc Ẩ và bà Lê Thị L11; Có chồng Cù Văn S4, có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  19. Nguyễn Văn T13, sinh năm 1983 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị A2 (Đã chết); Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Diễm L7, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12: Ông Nguyễn Văn P, Luật sư - Văn phòng luật sư Nguyễn Văn P, thuộc đoàn luật sư tỉnh K, bào chữa cho các bị cáo theo yêu cầu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/12/2019, nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về việc đang có nhiều người tổ chức đánh bạc tại bãi đất trống thuộc thôn P, xã V, thành phố N, tổ công tác thuộc phòng C2 - Công an tỉnh K phối hợp với Công an xã V, thành phố N tiến hành kiểm tra địa điểm trên, phát hiện bắt quả tang có nhiều đối tượng đang tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa chẵn lẻ, tổ công tác thu giữ số tiền 92.610.000 đồng trên chiếu bạc và mời 56 đối tượng có mặt tại sòng bạc về làm việc.

Quá trình điều tra, xác định được: Khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 12/2019, Trần Tuấn H, Huỳnh Ngọc T14, Nguyễn Văn T15, Nguyễn T1 và các đối tượng “Hiếu” (chưa rõ nhân thân lai lịch), “Tèo Ngựa” (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã chuẩn bị địa điểm, căng bạt che, ghế nhựa và các dụng cụ phục vụ cho việc xóc đĩa như chén đĩa, các quân vị đã được cắt sẵn... Trong đó, “H8” phân công cho Trần Tuấn H đứng ra quản lý các con bạc khi đặt tiền xuống sòng bạc phải đúng với số tiền đã hô, nếu không sẽ bị tịch thu tiền và cùng với H8 trực tiếp đứng ra chung chi tiền thắng thua cho các con bạc. Còn Huỳnh Ngọc T14, Nguyễn Văn T15 và Nguyễn T1 được phân công làm nhiệm vụ cảnh giới bên ngoài sòng bạc, trong đó, Nguyễn T1 cảnh giới phía ngoài sòng bạc, khi các con bạc đến chơi thì T1 hướng dẫn gửi xe, hướng dẫn lối đi; Nguyễn Văn T15 và Huỳnh Ngọc T14 kiểm soát lối ra vào của sòng bạc, kiểm soát các con bạc, nếu phát hiện bất thường sẽ tri hô cho bên trong tẩu thoát. Mỗi ngày, T15, T1 và T14 được trả công từ 500.000 đồng đến 600.000 đồng. Hình thức các đối tượng trên tổ chức đánh bạc cho các con bạc là xóc đĩa thắng thua bằng tiền với hình thức chẵn lẻ như sau: Dùng 04 con vị, mỗi con vị có 2 mặt đen và trắng, sau đó, bỏ vào đĩa và chén để xóc. Các con bạc sẽ đặt tiền dựa trên dự đoán chẵn lẻ, dựa vào số mặt giống nhau của 4 con vị mà phân thành cửa chẵn và cửa lẻ, tỉ lệ cược là 1:1. Sau đó, bất kỳ người tham gia chơi đánh bạc nào, nếu muốn nhận tiền chênh lệch giữa cửa chẵn và cửa lẻ sau khi mở chén, sẽ đăng ký mở chén, nhóm Trần Tuấn H chỉ thu tiền xâu là 5% số tiền thắng cược. Tại thời điểm bị tổ công tác bắt quả tang, có các đối tượng sau tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là: 153.245.000 đồng, cụ thể:

  • Nguyễn Tăng N5: Mang theo 50.000.000 đồng để đánh bạc, N5 đã tham gia đặt cược hai ván, mỗi ván 5.000.000 đồng. Ván thứ nhất Nhiệm thắng, ván thứ hai N5 vừa đặt xuống 5.000.000 đồng nhưng chưa có kết quả thì bị bắt.
  • Hồ Thị T9: Đặt 500.000 đồng vào cửa lẻ nhưng bị thua, T9 có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Nguyễn Anh V: Mang theo 900.000 đồng để đánh bạc, đặt 100.000 đồng vào cửa chẵn, chưa có kết quả thì bị bắt.
  • Trần Thị Kim N3: Mang 350.000 đồng đi đánh bạc, đặt 50.000 đồng bên cửa lẻ, chưa có kết quả thì bị bắt.
  • Lương Thị Thu H6: Mang theo 15.800.000 đồng nhưng H6 chỉ dùng 1.800.000 đồng để tham gia đánh bạc, H6 chơi được 06 ván thì bị thua với số tiền 800.000 đồng, khi đang đặt cược 500.000 đồng xuống chiếu bạc thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Nguyễn Thị Ánh T12: Mang theo 500.000 đồng đi đánh bạc, chơi năm ván, mỗi ván 100.000 đồng. Ván thứ năm, T12 vừa đặt 100.000 đồng xuống chiếu bạc thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Vũ Thị Minh T4: Mang theo 2.100.000 đồng để đánh bạc, đã chơi ba ván, mỗi ván 500.000 đồng, ván thứ tư vừa đặt 100.000 đồng xuống chiếu bạc, chưa có kết quả thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Nguyễn Thị Diễm L7: Đặt 100.000 đồng bên cửa chẵn, chưa có kết quả thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Đỗ Thị H1: Đặt 200.000 đồng bên cửa chẵn nhưng chưa có kết quả thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Nguyễn Thanh L2: Đánh hai ván, ván thứ hai đặt 200.000 đồng vào cửa chẵn nhưng chưa có kết quả thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Lê Thị L8: Đánh ba ván, mỗi ván 300.000 đồng, cả ba ván đều đặt bên lẻ, hai ván đầu thua. Đến ván thứ ba, L8 vừa đặt 300.000 đồng vào bên lẻ, chưa có kết quả thì bị kiểm tra bắt quả tang.
  • Trần Ngọc A: Đánh 100.000 đồng vào cửa chẵn, chưa có kết quả thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Nguyễn Văn P1: P1 chơi 04 ván, mỗi ván 200.000 đồng, ba ván đầu P1 bị thua, đến ván thứ tư, P1 vừa đặt 200.000 đồng vào cửa lẻ, chưa có kết quả thì bị Cơ quan Công an vào kiểm tra nên P1 bỏ chạy, bỏ lại 01 xe Airblade, biển kiểm soát: 79D1-385.48. Đến ngày 19/12/2019, P1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K khai nhận hành vi phạm tội của mình.
  • Huỳnh Thị Thanh V2: Mang theo 1.100.000 đồng đến chơi xóc đĩa. V2 đã đánh ba ván, hai ván đầu đặt cửa chẵn và thắng được 400.000 đồng. Ván thứ ba, V2 vừa đặt 500.000 đồng bên cửa chẵn nhưng chưa có kết quả thì bị Công an vào kiểm tra.
  • Nguyễn Quốc T6: Dùng 1.000.000 đồng để chơi đánh bạc. Ván thứ nhất T6 đặt 500.000 đồng bị thua, ván thứ hai T6 đặt 500.000 vào cửa chẵn, chưa có kết quả thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
  • Đặng Thị Kim L4: Dùng 800.000 đồng đánh bạc, L4 tham gia nhiều ván, mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, thua 800.000 đồng thì nghỉ. Tuy nhiên, Đặng Thị Kim L4 có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Trương Thị Tuyết A1: Mang theo 500.000 đồng, đánh 03 ván, mỗi ván 100.000 đồng, thua hết 300.000 đồng thì nghỉ chơi. Tuy nhiên, Trương Thị Tuyết A1 có 1 tiền án về tội đánh bạc.
  • Võ Ngọc Ú: Mang theo 700.000 đồng đánh bạc, Ú đặt 200.000 đồng vào cửa chẵn, chưa có kết quả thắng thua thì bị kiểm tra bắt quả tang.
  • Nguyễn Văn T13: Đặt 500.000 đồng vào cửa chẵn, chưa có kết quả thì bị kiểm tra bắt quả tang.

Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Tuấn H. Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.Phạt bổ sung: 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng).
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thân . Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thân 0 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh V. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh V 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  4. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Minh T4. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Minh T4 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  5. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị H1. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị H1 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”
  6. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh L2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L2 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  7. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc A. Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc A 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  8. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc T6. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T6 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  9. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Ngọc Ú. Xử phạt: Bị cáo Võ Ngọc Ú 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  10. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Thị T9. Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị T9 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc".
  11. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thị Kim L4. Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Kim L4 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  12. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Thị Tuyết A1. Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Tuyết A1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  13. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Kim N3. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Kim N3 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  14. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Thị Thu H6. Xử phạt: Bị cáo Lương Thị Thu H6 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  15. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Ánh T12. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T12 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  16. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm L7. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm L7 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  17. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị L8. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị L8 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc".
  18. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Thị Thanh V2. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Thanh V2 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
  19. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T13. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T13 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, về vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.

  • Ngày 06/5/2024, Trần Tuấn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
  • Ngày 06/5/2024, Nguyễn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; Nguyễn Thanh L2 kháng cáo xin được hưởng án treo; Trương Thị Tuyết A1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo
  • Ngày 25/4/2024, Nguyễn Anh V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
  • Ngày 26/4/2024, Huỳnh Thị Thanh V2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
  • Ngày 02/5/2024, Vũ Thị Minh T4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; Đỗ Thị H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Trần Ngọc A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Hồ Thị T9 kháng cáo xin được hưởng án treo; Trần Thị Kim N3 kháng cáo xin được hưởng án treo; Lương Thị Thu H6 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Nguyễn Thị Ánh T12 kháng cáo xin được hưởng án treo; Nguyễn Thị Diễm L7 kháng cáo xin được hưởng án treo; Lê Thị L8 kháng cáo xin được hưởng án treo;
  • Ngày 03/5/2024, Võ Ngọc Ú kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
  • Ngày 07/5/2024, Nguyễn Quốc T6 kháng cáo xin được hưởng án treo; Nguyễn Văn T13 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo;
  • Ngày 08/5/2024, Đặng Thị Kim L4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Tất cả các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
  • Luật sư bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thị Diễm L7, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12 phát biểu ý kiến: Luật sư đồng ý với tội danh mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo vì các lý do sau đây:
    • Các bị cáo L7, N3, T12 đánh bạc với số tiền rất nhỏ so với các bị cáo khác trong cùng một vụ án;
    • Các bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với vụ án này;
    • Hoàn cảnh gia đình các bị cáo rất khó khăn, bản thân các bị cáo là phụ nữ;
    • Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

    Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng Công văn số 01/2017 ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo L7, N3, T12 được hưởng án treo.

  • Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của tất cả các bị cáo trong thời hạn nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Tuấn H; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V; Vũ Thị Minh T4; Đỗ Thị H1; Võ Ngọc Ú; Trương Thị Tuyết A1 về tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L2; Trần Ngọc A; Nguyễn Quốc T6; Hồ Thị T9; Đặng Thị Kim L4; Trần Thị Kim N3; Lương Thị Thu H6; Nguyễn Thị Ánh T12; Nguyễn Thị Diễm L7; Lê Thị L8; Huỳnh Thị Thanh V2; Nguyễn Văn T13 về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Tuấn H, Nguyễn Anh V, Võ Ngọc Ú, Đặng Thị Kim L4, Lương Thị Thu H6, Huỳnh Thị Thanh V2, Vũ Thị Minh T4, Trương Thị Tuyết A1, Nguyễn Thanh L2, Trần Ngọc A, Nguyễn Quốc T6, Hồ Thị T9, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7, Lê Thị L8, Nguyễn Văn T13 không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Bị cáo Đỗ Thị H1 cung cấp tài liệu có mẹ ruột là Lê Thị N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H1 03 năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo H1. Hồ sơ thể hiện bị cáo Nguyễn T1 có vai trò đồng phạm, là người giúp sức nhưng có vai trò không đáng kể trong việc tổ chức đánh bạc, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là có phần nghiêm khắc nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo T1, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

    Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Tuấn H, Nguyễn Anh V, Võ Ngọc Ú, Đặng Thị Kim L4, Lương Thị Thu H6, Huỳnh Thị Thanh V2, Vũ Thị Minh T4, Đỗ Thị H1, Trương Thị Tuyết A1, Nguyễn Thanh L2, Trần Ngọc A, Nguyễn Quốc T6, Hồ Thị T9, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7, Lê Thị L8, Nguyễn Văn T13, giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo này. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn T1, giảm hình phạt cho bị cáo T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của tất cả các bị cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi của các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 17/12/2019, tại bãi đất trống thuộc thôn P, xã V, thành phố N, các bị cáo Trần Tuấn H, Nguyễn Văn T15, Huỳnh Ngọc T14, Nguyễn T1 đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ và phân công nhiệm vụ cho nhau tổ chức cho Nguyễn Tăng N5, Nguyễn Anh V, Vũ Thị Minh T4, Đỗ Thị H1, Nguyễn Thanh L2, Trần Ngọc A, Nguyễn Quốc T6, Võ Ngọc Ú, Hồ Thị T9, Đặng Thị Kim L4, Trương Thị Tuyết A1, Trần Thị Kim N3, Lương Thị Thu H6, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7, Lê Thị L8, Nguyễn Văn P1, Huỳnh Thị Thanh V2, Nguyễn Văn T13 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc dĩa chẵn lẻ, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 153.245.000 đồng. Trong đó tiền thu trên chiếu bạc là 92.610.000 đồng và tiền thu được trong người các con bạc là 60.635.000 đồng.

Do đó, hành vi của các bị cáo Trần Tuấn H, Nguyễn Văn T15, Huỳnh Ngọc T14, Nguyễn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Hành vi của các bị cáo Nguyễn Anh V, Trần Thị Kim N3, Lương Thị Thu H6, Nguyễn Thị Ánh T12, Vũ Thị Minh T4, Nguyễn Thị Diễm L7, Đỗ Thị H1, Nguyễn Thanh L2, Lê Thị L8, Trần Ngọc A, Nguyễn Văn P1, Huỳnh Thị Thanh V2, Nguyễn Quốc T6, Võ Ngọc Ú, Nguyễn Văn T13, Hồ Thị T9, Đặng Thị Kim L4, Trương Thị Tuyết A1 đã cấu thành tội “Đánh bạc”, với tình tiết định khung “Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trị giá 50.000.000đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét đơn kháng cáo của các bị cáo:

[3.1] Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn H: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có thời gian chấp hành hình phạt tù nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi pháp luật cấm thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt để quyết định hình phạt đối với bị cáo H là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới phát sinh nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo H.

[3.2] Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn T1, Nguyễn Anh V, Võ Ngọc Ú, Lương Thị Thu H6, Huỳnh Thị Thanh V2, Vũ Thị Minh T4, Trương Thị Tuyết A1, Nguyễn Thanh L2, Trần Ngọc A, Nguyễn Quốc T6, Hồ Thị T9, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7, Lê Thị L8, Nguyễn Văn T13: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo này.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7 cho rằng cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng Công văn số 01/2017 ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo L7, N3, T12 được hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng, đối với tội đánh bạc trong vụ án này vai trò của các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là ngang nhau nên không thể xác định vị trớ, vai trũ thứ yếu, khụng đỏng kể trong vụ ỏn cú đồng phạm. Do đú, Hội đồng xột xử khụng cú cơ sở để ỏp dụng tỡnh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo N3, T12, L7.

[3.3] Đối với kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Kim L4: Bị cáo sinh ngày 10/6/1954, tại thời điểm xét xử phúc thẩm bị cáo trên 70 tuổi nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vậy, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên cần phải áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét quyết định dưới khung hình phạt cho bị cáo L4.

[3.4] Đối với kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H1: Bị cáo cung cấp tài liệu có mẹ ruột là Lê Thị N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H1.

Đối với đối tượng “Tèo ngựa”: Xác minh tại xã V, thành phố N có đối tượng Nguyễn Tấn H9 tên thường gọi là T16 ngựa. Tuy nhiên chưa có đủ căn cứ xác định đối tượng Nguyễn Tấn H9 là T16 ngựa nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với đối tượng tên “H8”, “Đen”, “Cu Út” hiện chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đang xác minh điều tra làm rõ, nếu có đủ căn cứ đề nghị xử lý theo quy định.

Đối với Đoàn Minh H10, Hồ Thị Thy T17, Nguyễn Thị Kim D1, Nguyễn Thị Hồng N6, Trần Thị Thanh N7, Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị Đ (Nguyễn Thị H11), Nguyễn Thị M3, Lê Thị H12, Nguyễn Thị Hồng N6, Ngô Thị T18, Nguyễn Quốc K3, Nguyễn Thị M4, Mang Thị Kim H13, Nguyễn Thị Thu T19, Lê Thị H14 (trú tại phường C, thành phố C); Lê Thị H14 (Trú tại: Thôn Đ, xã V, thành phố N); Nguyễn Thị M3 đã có hành vi đánh bạc, tuy nhiên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” nên cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với đối tượng tên Phạm Thị Thu T20, sinh năm 1972 trú tại: Tổ L, phường C, thành phố C: Tại cơ quan điều tra khai tên Phạm Thị Thu T20, có cha là Phạm Văn S5, sinh năm 1937 và mẹ là Nguyễn Thị N8, sinh năm 1941. Tuy nhiên qua tra cứu tài liệu lưu trữ có trong tàng thư căn cước công dân tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Công an tỉnh K thì không có thông tin về đối tượng có tên nêu trên. Xác minh tại công an phường C, không có đối tượng tên Phạm Thị Thu T20, do đó cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với các đối tượng Nguyễn Thị Phương H15, Nguyễn Thị Ngọc T21, Nguyễn Thị T22, Đinh Thị L12, Trần Thị H16, Nguyễn Thị Thùy D3, Vương Thị Trúc L13, Nguyễn Thị Ngọc T23, Trần Thị Đ1, Lê Thị Thanh N1, Phan Thị L14, Trần Thị N9, Phạm Thị H17, Đoàn Thị Yến T24, Huỳnh Hoa H18, Nguyễn Thị Kim T25, Nguyễn Thị Kiều O, Nguyễn Thị M5: Tại thời điểm bắt quả tang các đối tượng tuy có mặt ở sòng bạc, xác minh nhân thân lai lịch các đối tượng nêu trên chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên chưa có căn cứ xác định các đối tượng trên tham gia đánh bạc.

[4] Về án phí: Các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đỗ Thị H1 và Đặng Thị Kim L4 được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[I] Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Tuấn H, Nguyễn T1, Nguyễn Anh V, Võ Ngọc Ú, Lương Thị Thu H6, Huỳnh Thị Thanh V2, Vũ Thị Minh T4, Trương Thị Tuyết A1, Nguyễn Thanh L2, Trần Ngọc A, Nguyễn Quốc T6, Hồ Thị T9, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7, Lê Thị L8, Nguyễn Văn T13;

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Thị Kim L4 và Đỗ Thị H1, sửa bản án sơ thẩm.

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Tuấn H, xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. (Được trừ thời gian từ ngày 17/12/2019 đến ngày 14/3/2020). Phạt bổ sung: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
  2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn T1, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thân 0 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. (Được trừ thời gian từ ngày 17/12/2019 đến ngày 14/3/2020).
  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh V, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh V 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  4. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Minh T4, xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Minh T4 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  5. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị H1, xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị H1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  6. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh L2, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L2 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  7. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc A, xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc A 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  8. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc T6, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T6 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  9. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Ngọc Ú, xử phạt: Bị cáo Võ Ngọc Ú 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  10. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hồ Thị T9, xử phạt: Bị cáo Hồ Thị T9 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  11. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thị Kim L4, xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Kim L4 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  12. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Thị Tuyết A1, xử phạt: Bị cáo Trương Thị Tuyết A1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  13. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Kim N3, xử phạt: Bị cáo Trần Thị Kim N3 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  14. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Thị Thu H6, xử phạt: Bị cáo Lương Thị Thu H6 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  15. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Ánh T12, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T12 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  16. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm L7, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm L7 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  17. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị L8, xử phạt: Bị cáo Lê Thị L8 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  18. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Thị Thanh V2, xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Thanh V2 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  19. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T13, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T13 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

[II] Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trần Tuấn H, Nguyễn T1, Nguyễn Anh V, Võ Ngọc Ú, Lương Thị Thu H6, Huỳnh Thị Thanh V2, Vũ Thị Minh T4, Trương Thị Tuyết A1, Nguyễn Thanh L2, Trần Ngọc A, Nguyễn Quốc T6, Hồ Thị T9, Trần Thị Kim N3, Nguyễn Thị Ánh T12, Nguyễn Thị Diễm L7, Lê Thị L8, Nguyễn Văn T13, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[III] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[IV] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1- TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND TP. Nha Trang;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - Cơ quan điều tra - Công an TP. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;
  • - Bị cáo; người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 134/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn Hải và đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger