Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HSST

Ngày: 02-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thái Thị Dung – Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện Tuy Phong
  2. Ông Nguyễn Trường Sa – Bí thư Đảng uỷ thị trấn Liên Hương

- Thư ký phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/HSST, ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/QĐHS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thái T, Giới tính: Nam; sinh: 12.12.1992, tại Bình Thuận; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không;

Tiền án, tiền sự: không;

Cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 và Mẹ: Lê Thị B, sinh năm 1963, hiện ở: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; A, chị, em ruột: có 03 người. Lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1997; Vợ: Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 2003 (hiện nay đã ly hôn), hiện ở thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Con: 01 người, sinh năm 2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt

- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1970 và ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1967; Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn Ý, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt
  2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt
  3. Lê Thị B, sinh năm 1963 và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967; Địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 23/05/2010 Nguyễn Thái T, sinh năm 1992, trú tại: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 86K8 – 7408 chạy trên đường liên xã P - P theo hướng P - P. T điều khiển xe mô tô chạy ở làn đường bên phải theo hướng đi, khi T đi đến đoạn đường thuộc xóm D, thôn L, xã P, huyện T thì T liền điều khiển xe mô tô biển số 86K8 – 7408 không mở đèn tín hiệu xin chuyển hướng mà bất ngờ chuyển hướng từ làn đường bên phải sang làn đường bên trái đến gần sát lề đường của làn đường bên trái (tính theo hướng P - P). Cùng lúc này, Nguyên Ngọc B2, sinh năm 1991, trú tại: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận điều khiển xe mô tô biển số 86R1 – 7939, chở Nguyễn Văn Ý, sinh năm 1994, trú tại: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận ngồi phía sau, chạy ở làn đường bên phải theo hướng P - P và chạy sát lề đường bên phải, B2 phát hiện xe mô tô do T điều khiển bất ngờ chuyển hướng, do khoảng cách gần nên T và B2 không kịp lách tránh dẫn đến xe mô tô biển số 86K8 – 7408 do T điều khiển tung vào xe mô tô biển số 86R1 – 7939 do B2 điều khiển làm cho xe mô tô 86K8 – 7408 ngã sang phải, nằm ngang giữa đường, đầu xe quay sang lề đường phải (tính theo hướng P - P) và xe mô tô 86R1 – 7939 ngã sang phải, nằm ngang giữa đường, đầu xe quay sang lề đường phải (tính theo hướng P - P), T, B2 và Ý té ngã xuống đường. Hậu quả, Nguyễn Ngọc B2, Nguyễn Thái T bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu, Ý bị sây sát ngoài da không đáng kể. Đến ngày 24.5.2010 Nguyễn Ngọc B2 tử vong.

Qua khám nghiệm hiện trường xác định: Vụ Tai nạn giao thông xảy ra tại đường liên xã P - P thuộc thôn L, xã P, huyện T. Hiện trường nằm trên đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, khu vực dân cư ở hai bên lề đường, mật độ giao thông qua lại ít, mặt đường được làm bằng bê tông bằng phẳng, không có cọc tiêu. Mặt đường rộng 06m.

  • Xe mô tô 86R1 - 7939 ngã sang phải, nằm ngang giữa đường, đầu xe quay sang lề đường phải, trục bánh trước cách mép đường trái là 3,90m, trục bánh sau cách mép đường trái là 2,95m (tính theo hướng L - P).
  • Xe mô tô 86K8 - 7408 ngã sang phải, nằm ngang giữa đường, đầu xe quay sang lề đường phải, trục bánh trước rơi ra khỏi xe, trục bánh trước cách mép đường phải là 3,60m. Chảng ba (đầu xe) cách mép đường trái là 2,90m, trục bánh sau cách mép đường trái là 2,00m (tính theo hướng L - P). Cách trục bánh sau xe mô tô 86R1 – 7939 là 1,08m và cách trục bánh trước xe mô tô 86R1 – 7939 là 1,95m.
  • Vết máu (1) có kích thước (0,35m x 0,15)m nằm trên mặt đường, tâm vết máu cách mép đường trái là 4,35m và cách trục bánh trước xe mô tô 86R1 – 7939 là 0,90m (tính theo hướng L - P).
  • Vết máu (2) có kích thước (0,45m x 0,35)m nằm trên mặt đường, tâm vết máu cách mép đường trái là 1,35m và cách trục bánh sau xe mô tô 86K8 – 7408 là 0,60m (tính theo hướng L - P).
  • Ngoài ra trên mặt đường gần vị trí 02 xe mô tô ngã có nhiều mảnh vỡ nằm rải rác trên đường.
  • Lấy cột điện số N477 3A1/3 nằm trên lề đường trái tính theo hướng L - P làm điểm chuẩn của vụ tai nạn giao thông, kéo thẳng từ chân cột điện đến trục bánh trước xe mô tô 86R1 – 7939 là 14,65m và đến trục bánh sau xe mô tô 86R1 – 7939 là 13,40m.

Sau khi khám nghiệm hiện trường Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã thu giữ 01 xe mô tô 86R1 - 7939 và 01 xe mô tô 86K8 - 7408.

- Khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, xác định:

* Khám phương tiện xe mô tô 86R1 - 7939:

Ghi đông lệch sang phải đưa về sau; Đồng hồ tốc độ + đèn chiếu sang + đèn xinhan trước, phải, trái + ốp ghi đông trước, trên, sau + mặt nạ bể vỡ hoàn toàn; Bát bắt mặt nạ móp đưa lên trên; Trảng ba cong, vặn sang phải, làm toàn bộ bánh trước vặn sang phải về sau đụng vào lốc máy; G sóc bánh trước bên phải bể vỡ, đầu giảm sóc đưa ra khỏi đùm xe; Chắn bùn bánh trước bể vỡ; Vành bánh trước móp méo; Cánh bửng bên phải, trái, yếm bửng bể vỡ; Bu gi đứt dây, rơi ra khỏi lốc máy; B3 để chân trước bên phải cong đụng vào bàn đạp máy.

* Khám phương tiện xe mô tô 86K8 – 7408:

Ghi đông bên trái cong đưa về sau; Đồng hồ tốc độ + đèn chiếu sang + đèn xinhan trước, phải, trái + ốp ghi đông trước, trên, sau + mặt nạ bể vỡ hoàn toàn; Bát bắt mặt nạ móp méo, cong đưa về sau; Chắn bùn bánh trước bể vỡ; Trảng ba gãy cốt làm bánh trước rơi ra khỏi xe; Giảm sóc bánh trước bên trái cong lệch về sau; Vành bánh trước móp méo, nan hoa gãy làm xăm lốp bể bung; Đùm bánh trước phía bên trái bể vỡ, kích thước (2,5x3)cm; Cánh bửng bên phải, trái, yếm bửng bể vỡ; Bô e bị bể vỡ, móp thụn vào trong; Đầu lốc máy bên phải bị bể vỡ, kích thước (5x3)cm (bu gi rơi ra ngoài); Cần thắng chân cong đưa lên trên dụng vào lốc máy; B3 để chân trước bên phải cong đưa lên trên.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 210/2010/KN-TT ngày 30.7.2010 của Trung tâm giám định pháp y – Sở Y, kết luận:

1.Dấu hiệu chính qua giám định: (Dấu hiệu liên quan đến cái chết của nạn nhân):

  • Đa chấn thương vùng đầu, mặt.
  • Chấn thương đùi phải.

2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương vùng đầu mặt, làm nứt xương sọ thái dương phải, tụ máu nội sọ, chèn ép não; chấn thương đùi phải làm gãy kín 1/3 giữa xương đùi phải gây choáng không hồi phục -> tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 468/PYTT ngày 07.9.2010 của V – Bộ Y1 kết luận:

- Về Y học:

  • + Trước, trong gây án: đương sự không có bệnh tâm thần.
  • + Sau khi gây án và hiện tại: hội chứng sau đụng dập não (F07.2 – ICD. 10).

- Về Pháp luật:

  • + Đương sự gây án trong giai đoạn tỉnh đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.
  • + Hiện tại đương sự bị hội chứng sau đụng dập não chưa đủ khả năng làm việc với Cơ quan pháp luật.

- Đề nghị:

  • + Cần được điều trị theo chuyên khoa một thời gian, khi nào ổn định sẽ tiếp tục làm việc với Cơ quan pháp luật.
  • + Áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi xét xử.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 752/GĐ/2010TgT ngày 09.9.2010 của Trung tâm giám định pháp y – Sở Y, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • + Chấn thương vùng đầu, nứt bản ngoài xương sọ thái dương phải, tụ máu ngoài màng cứng thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng thái dương trái, dập não thái dương trái, dập não trán phải đã được điều trị nội khoa.
  • + Hiện mù mắt phải do thoái hoá võng mạc, xuất huyết hoàng điểm sau chấn thương.
  • + Chấn thương cẳng chân phải gãy 1/3 trên xương chày phải đã can xương.

2. Căn cứ tiêu chuẩn thương tật ban hành tại Thông tư số 12/TTLB ngày 26/07/1995 của Bộ Y1, sức khoẻ của nguyễn Thái T bị giảm do thương tích trên là 58% tạm thời.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 510/PYTT-PVPN ngày 05.7.2012 của V – Bộ Y1 kết luận:

- Về Y học:

  • + Trước, trong khi gây án: đương sự không có bệnh tâm thần.
  • + Sau khi gây án và hiện tại: hội chứng sau đụng dập não (F07.2 – ICD. 10).
  • + Hiện nay: rối loạn cảm xúc không ổn định suy nhược thực tổn (F06.6 – ICD.10)

- Về pháp luật:

  • + Tại thời điểm gây án: đương sự gây án trong giai đoạn tỉnh đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.
  • + Hiện tại: đương sự chưa đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với Cơ quan pháp luật.

- Đề nghị:

  • + Cần được điều trị theo chuyên khoa một thời gian, khi nào ổn định sẽ tiếp tục làm việc với Cơ quan pháp luật.
  • + Áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi xét xử do có bệnh.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 5709/KLGĐ ngày 02.8.2024 của trung tâm P1 - khu vực TP . Hồ Chí Minh - Bộ Y1 kết luận:

  • Hiện tại: đối tượng Nguyễn Thái T bị rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8-ICD10).
  • Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Nguyễn Thái T hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại công văn số 382/PYTTKVHCM-KHTH ngày 29.8.2024 của trung tâm P1 - Bộ Y1 trả lời:

  1. Hiện tại đối tượng Nguyễn Thái T có rối loạn tâm thần.
  2. Hiện tại đối tượng Nguyễn Thái T có thể làm việc với cơ quan pháp luật nhưng hạn chế một phần khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
  1. Việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hình sự của đối tượng Nguyễn Thái T không thuộc thẩm thẩm quyền trả lời của Giám định viên pháp y tâm thần.

Đối với Nguyễn Văn Ý bị thương tích do vụ tai nạn giao thông nêu trên, do thương tích nhẹ nên Ý từ chối giám định thương tích nên không xem xét, xử lý.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 109/CT-VKSTP- HS, ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thái T mức án từ 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) kể từ ngày tuyên án.

Về tang, vật chứng của vụ án: Ngày 08.9.2011 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại 01 xe mô tô biển số 86K8-7408 cho Nguyễn Văn Đ là cha ruột của Nguyễn Thái T và đã trả lại 01 xe mô tô biển số 86R1-7939 cho Nguyễn Ngọc H là người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Ngọc B2 theo quy định của Pháp luật nên không xem xét nữa.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thái T cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Ngọc B2 18.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Ngọc B2 là ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Thị B1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về chứng cứ buộc tội bị cáo:

Do tại phiên bị cáo khai bị cáo không nhớ bất kỳ tình tiết gì liên quan đến vụ tai nạn giao thông nên căn cứ vào lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm tử thi cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đủ cơ sở kết luận đây là vụ án: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, xảy ra vào khoảng hơn 19 giờ ngày 23.5.2010 tại đường liên xã thuộc thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận, do bị cáo Nguyễn Thái T (không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) đã điều khiển xe mô tô biển số 86K8-7408 chuyển hướng không đúng quy định đã tung vào xe mô tô biển số 86R1-7939 do Nguyễn Ngọc B2 điều khiển chở Nguyễn Văn Ý ngồi phía sau chạy theo hướng ngược chiều đến. Hậu quả: B2 tử vong, bị cáo T bị thương tích nặng.

Hành động của bị cáo Nguyễn Thái T (không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 86K8-7408 chuyển hướng không đúng quy định đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1, khoản 2 Điều 15, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 86K8-7408 chuyển hướng không đúng quy định đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ gây ra tai nạn giao thông làm chết 01 người, lỗi hoàn toàn thuộc về Nguyễn Thái T nên T phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Vì vậy, Cáo trạng số 109/CT-VKSTP- HS, ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Nguyễn Thái T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên nhận thức rõ việc gây tai nạn là vi phạm pháp luật, bị cáo không có Giấy phép lái xe theo quy định, nhưng lại điều khiển xe mô tô biển số 86K8-7408 đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ gây ra tai nạn giao thông làm chết 01 người, lỗi thuộc hoàn toàn thuộc về bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra. Vì vậy, cần xử lý bị cáo đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thái T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Nguyễn Thái T đã cùng với gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại Nguyễn Ngọc B2, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin bãi nãi và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo hiện nay hạn chế một phần khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hiện nay bị cáo trong cuộc sống hang ngày không tự chăm sóc bản thân mà vẫn phải phụ thuộc sự giúp đỡ của người

thân trong gia đình, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Xét thấy bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho phía gia đình người bị hại, hơn nữa bị cáo hiện nay hạn chế một phần khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không nhất thiết phải bắt bị cáo giam mà cho bị cáo cải tạo ở bên ngoài dưới sự giám sát của gia đình và cơ quan chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị B (cha mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Thái T) là chủ sỡ hữu của xe mô tô biển số 86K8-7408, việc bị cáo T tự ý lấy xe mô tô đi thì ông Đ và bà B không biết nên không xem xét xử lý đối với ông Đ và bà B là phù hợp với quy định pháp luật.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên ghi nhận để xem xét.

[6]. Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại 01 xe mô tô biển số 86K8-7408 cho ông Nguyễn Văn Đ là cha ruột của bị cáo T và đã trả lại 01 xe mô tô biển số 86R1-7939 cho ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Ngọc B2 theo quy định của Pháp luật nên không xem xét.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thái T cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Ngọc B2 số tiền 18.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Ngọc B2 là ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Thị B1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Thái T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thái T cho UBND xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án

treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thái T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế độ án treo cho bị cáo).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận + huyện
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo, đại diện bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HSST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

  • Số bản án: 134/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo T 03 tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger