Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày: 14/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Gái

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXX-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo họ tên:

1. Trịnh Văn S; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 14/6/1984, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa; lớp 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông: Trịnh Văn T và con bà Nguyễn Thị H; vợ: Trần Nguyệt Linh N, sinh năm 1996 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2007; Tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 26/9/2022 Tòa án nhân dân (viết tắt: TAND) thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/11/2023.

Nhân thân:

  • + Ngày 28/01/2005 TAND thị xã nay là thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản” chấp hành xong bản án ngày 14/4/2011.
  • + Ngày 14/6/2011 TAND thị xã nay là thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Kinh doanh trái phép”; 12 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” chấp hành xong bản án ngày 10/4/2013.
  • + Ngày 27/5/2013 TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 23/8/2019.
  • + Ngày 28/11/2017 TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 23/8/2019.
  • + Ngày 03/02/2021 Công an thành phố C xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 28/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

2. Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 08/10/1987, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ A, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn N1 và con bà Nguyễn Thị T1; vợ; Nguyễn Thị P, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2008. Tiền sự: không;

Tiền án:

  • + Ngày 09/5/2018 TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 39 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa thi hành xong phần dân sự.
  • + Ngày 30/9/2022 TAND thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong bản án ngày 31/3/2024.

Nhân thân:

  • + Ngày 06/4/2011 TAND thị xã nay là thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong bản án ngày 11/9/2011.
  • + Ngày 20/8/2012 TAND thành phố Cẩm Phả xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thi hành xong bản án ngày 29/8/2014.
  • + Ngày 12/02/2012 C là thành phố C xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đầu thú ngày 26/6/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

3. Trương Ngọc K; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 18/7/1987, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ A, khu D, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông: Trương Văn L và con bà: Vương Thị M; vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1992, có 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 06/01/2011 TAND thị xã nay là thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”, thi hành xong bản án ngày 10/3/2013.
  • + Ngày 28/11/2017 TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 23/10/2018.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 27/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Ngọc D1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: tổ A, khu D, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.

* Người chứng kiến: anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm: 1986, nơi cư trú: tổ D, khu E, phường C, thành phố C, Quảng Ninh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như như sau: Hồi 20 giờ ngày 27/5/2024 tại tổ A, khu D phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với đội kiểm soát phòng chống ma túy Cục Hải quan tỉnh Q phát hiện Trương Ngọc K tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của K 01 đoạn ống hút nhựa dài 2,5cm được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,173 gam; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu hồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, BKS 14U1-391.64. Trương Ngọc K khai nhận: 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá K mua của Trịnh Văn S để sử dụng.

Bản Kết luận giám định số 777/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Chất tinh thể trắng chứa trong 01 ống nhựa hàn kín hai đầu là chất ma túy; Loại Methamphetamine. Khối lượng: 0,173 gam (không phảy một bảy ba gam).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Văn S, thu giữ 01 Điện thoại di động Samsung vỏ màu trắng gắn sim, 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redme vỏ màu xanh, có gắn 02 sim và 01 Căn cước công dân mang tên Trịnh Văn S.

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo Trịnh Văn S, Nguyễn Tuấn A, Trương Ngọc K đều khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo Trương Ngọc K khai nhận là bạn xã hội với Trịnh Văn S, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 K gọi điện thoại hỏi S mua ma túy đá để sử dụng, bị cáo đi xe mô tô đến nhà S, tại tầng hai phòng ngủ của S, bị cáo đưa S 500.000 đồng tiền mua ma túy, S bán cho bị cáo 01 ống hút nhựa bên trong chứa ma túy đá, bị cáo về nhà sử dụng hết.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo tiếp tục gọi cho S hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, S hẹn bị cáo đến nhà như lần trước, bị cáo đi xe mô tô BKS 14U1-391.64 đi đến đầu ngõ nhà S thì gặp một thanh niên hỏi bị cáo đến nhà S à, bị cáo hiểu thanh niên này là người được S đưa ma túy đem bán nên bị cáo dừng xe lại đưa cho anh ta 450.000 đồng và nói cho bớt 50.000 đồng đổ xăng, mua được ma túy bị cáo trên đường về tìm nơi sử dụng thì bị Công an bắt thu giữ ma túy, 01 Điện thoại Samsung, vỏ màu hồng, 01 Xe mô tô BKS 14U1-391.64 mượn của anh Phạm Ngọc D1.

Bị cáo Trịnh Văn S khai nhận: quen biết Trương Ngọc K đã 10 năm khi cả hai cùng thụ án, bị cáo sử dụng loại ma túy đá từ năm 2024, một tháng trở lại đây bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho K, nhưng chỉ còn nhớ hai lần cụ thể: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 27/5/2024 bị cáo ở nhà tổ 1, khu C phường C, thành phố C, K điện thoại cho bị cáo hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, bị cáo hẹn K đến nhà, tại phòng ngủ bị cáo bán cho K 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng.

Tiếp khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 27/5/2024 K điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá, bị cáo hẹn K như lần trước, lúc này Tuấn A là em xã hội chơi ở nhà bị cáo, bị cáo lấy 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá đem xuống tầng 1 đưa Tuấn A nói ra đầu đường bán cho K với giá 500.000 đồng, lúc sau Tuấn A về đưa bị cáo số tiền 450.000 đồng nói đã bán ma túy K xin 50.000 đồng đổ xăng.

Nguồn gốc ma túy bị cáo bán cho K là mua của người có tên G khoảng 10 ngày trước khi bị bắt giá 1.000.000 đồng tại khu bờ hồ B do, bị cáo về chia thành 04 túi nhỏ bán với giá 500.000 đồng/túi, bị cáo đã sử dụng 02 túi ma túy, còn 02 túi bán cho K vào ngày 27/5/2024 như khai trên; bị cáo không rõ tên, địa chỉ của G nhưng thường giao dịch mua ma túy của G ở khu bờ hồ B do phường C, mỗi lần liên lạc bán ma túy G sử dụng một số điện thoại khác, bị cáo đã hai lần mua ma túy của G cụ thể: Một buổi trưa ngày đầu tháng 5/2024 (không nhớ ngày) G dùng số điện thoại lạ gọi hỏi bị cáo mua ma túy đá, bị cáo đồng ý mua 1.500.000 đồng ma túy và chỉ nhà bị cáo ở cho G, sau đó gần khu vực nhà bị cáo G bán cho bị cáo 01 gói ma túy giá 1.500.000 đồng, bị cáo về sử dụng hết. Tiếp đến khoảng 12 giờ trưa cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày (không nhớ ngày), cũng giao dịch mua bán ma túy với G như trước đó, bị cáo đã mua 1.000.000 đồng ma túy đá đem về chia vào 04 túi nilon nhỏ (tức trong ống nhựa) hàn kín hai đầu, bị cáo sử dụng hết 02 túi, còn 02 túi ma túy đá bán cho Trương Ngọc K vào ngày 27/5/2024.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận sử dụng ma túy đá từ năm 2020, bị cáo quen S khi đi thụ án tại trại giam, chiều ngày 27/5/2024 bị cáo đến chơi nhà S tại phường C thì S có nghe điện thoại rồi S từ trong nhà ra cửa đưa cho bị cáo 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có ma túy đá, S bảo đem ra đầu ngõ đưa cho K và nhận 500.000 đồng về cho S, bị cáo cầm gói ma túy ra đầu ngõ nhà S thì 01 thanh niên đi xe mô tô đến, bị cáo hỏi người thanh niên là bạn S hả, người thanh niên dừng lại đưa cho bị cáo 450.000 đồng và nói bớt 50.000 đồng để đổ xăng, bị cáo nhận tiền và đưa người này gói ma túy S đưa, bị cáo về đưa tiền bán ma túy cho S, nghe tin S, K bị bắt bị cáo ra đầu thú. Đây là lần đầu bị cáo bán ma túy giúp S, bị cáo nghĩ S sẽ cho ma túy để sử dụng; trước đây thi thoảng bị cáo được S cho ma túy sử dụng.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Ngọc D1 khai nhận là chủ sở hữu xe mô tô BKS 14U1-391.64; ngày 27/5/2024 anh cho K mượn xe mô tô đi có việc riêng, anh D1 không biết K sử dụng xe đi mua ma túy, anh đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Người chứng kiến anh Nguyễn Hoàng T2 khai nhận: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 27/5/2024 tại khu vực ngõ D đường N thuộc phường Q thấy Công an kiểm tra 01 thanh niên tên Trương Ngọc K, Công an thu trong lòng tay trái của K 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể trắng, K khai nhận là ma túy đá mua của Trịnh Văn S với giá 450.000 đồng, trên đường về sử dụng bị Công an kiểm tra thu giữ vật chứng. Công an còn thu giữ của K 01 Điện thoại di động Samsung, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS 14U1-391.64.

Bản Cáo trạng số: 2677/CT-VKSCP ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Trịnh Văn S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trương Ngọc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn S;

Áp dụng: điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A;

Áp sụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc K.

Xử phạt: Trịnh Văn S từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 28/5/2024.

Xử phạt: Nguyễn Tuấn A từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2024.

Xử phạt: Trương Ngọc K từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/5/2024.

Đề nghị áp dụng: Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam ma túy, loại Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành; 02 sim điện thoại thu của bị cáo S, K do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng thu của bị cáo S, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu hồng thu của bị cáo K do có liên quan đến việc phạm pháp.

Trả lại bị cáo S 01 Điện thoại nhãn hiệu Realme, màu xanh kèm 02 sim điện thoại; 01 Căn cước công dân mang tên Trịnh Văn S.

Truy thu buộc bị cáo S phải nộp lại số tiền 950.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho K để nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 Xe mô tô BKS 14U1-391.64 Cơ quan điều tra đã trả lại anh Phạm Ngọc D1 nên không đề cập.

Tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Văn S, Nguyễn Tuấn A, Trương Ngọc K đều khai nhận tội, các bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Văn S, Nguyễn Tuấn A, Trương Ngọc K đều khai nhận nội dung: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 tại tổ A khu C phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh bị cáo Trịnh Văn S đã bán trái phép 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng cho Trương Ngọc K để K sử dụng. Tiếp khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 cũng tại tổ A khu C phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh Trịnh Văn S đã đưa cho Nguyễn Tuấn A 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,173 gam đem bán cho Trương Ngọc K với giá 450.000 đồng để K sử dụng, trên đường K đem ma túy về sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định số 777/KL-KTHS của Phòng K1, Công an tỉnh Q, lời khai người có quyền lợi liên quan anh Phạm Ngọc D1, lời khai người chứng kiến anh Nguyễn Hoàng T2, biên bản nhận dạng người qua ảnh, biên bản khám xét lập ngày 27/5/2024 tại nơi ở của Trịnh Văn S, biên bản phạm tội quả tang đối với Trương Ngọc K lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, biên bản kiểm tra điện thoại của Trịnh Văn S và Trương Ngọc K, Biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú lập ngày 26/6/2024 đối với Nguyễn Tuấn A, Quyết định xử lý vật chứng, biên bản trả tài sản cho chủ sở hữu, vật chứng thu giữ và nhiều tài liệu chứng cứ khác có lưu trong hồ sơ vụ án.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 tại tổ A khu C phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh bị cáo Trịnh Văn S đã bán trái phép 01 gói ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng cho Trương Ngọc K để K sử dụng. Tiếp khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 cũng tại tổ A khu C phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh Trịnh Văn S đã đưa cho Nguyễn Tuấn A 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,173 gam đem bán cho Trương Ngọc K với giá 450.000 đồng để K sử dụng, trên đường K đem ma túy về sử dụng thì bị Công an bắt quả tang.

Như vậy có đủ cở sở kết luận: Bị cáo Trịnh Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trương Ngọc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vậy việc truy tố đối với các bị cáo Trịnh Văn S, Nguyễn Tuấn A, Trương Ngọc K như nội dung bản Cáo trạng số 2677/CT-VKSCP ngày 22/10/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.

Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma túy gây mất trật tự tại địa phương, các bị cáo trong vụ án đều biết được tác hại của ma túy song do thiếu tu dưỡng, rèn luyện; với mục đích tham lợi và để tiếp tục có ma túy sử dụng nên bị cáo S đã mua ma túy bán cho người khác để hưởng lợi, bị cáo S phạm tội khi nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử, bản án xét xử đối với bị cáo S vào năm 2022 chưa được xóa án, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên, trong đó hành vi hồi 20 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, S đưa ma túy cho Tuấn A đem bán cho K là vụ án có đồng phạm, bị cáo S là người khởi xướng, với hai lần phạm tội và thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo S bị truy tố, xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 251, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A tiếp nhận ý chí và nhận ma túy từ bị cáo S đem bán cho Trương Ngọc K vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, bị cáo Tuấn A với vai trò thứ yếu trong vụ án, bị cáo phạm tội khi đã nhiều lần bị xét xử, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Trương Ngọc K sau khi mua được 0,173 gam ma túy, loại Methamphetamine từ Nguyễn Tuấn A, bị cáo trên đường về nhà sử dụng thì bị bắt giữ, bị cáo phạm tội khi có nhân thân xấu, đã hai lần bị Tòa án xét xử. Hành vi các bị cáo thực hiện đã tiếp tay cho đối tượng bán trái phép chất ma túy, các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, là cầu nối làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xử lý nghiêm đối với cả ba bị cáo.

Song cần xét: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra cả ba bị cáo đều khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra hối cải, bị cáo Tuấn A đầu thú nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả ba bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Tuấn A được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Hình phạt bổ sung: cả ba bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập đều không ổn định nên không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với cả ba bị cáo.

[4] Về vật chứng: 0,12 gam ma túy, loại Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành và 02 sim điện thoại thu của bị cáo S, K do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng thu của bị cáo S, 01 điện thoại Samsung màu hồng thu của bị cáo K, các tài sản này đều liên quan đến việc phạm pháp nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

01 Điện thoại nhãn hiệu Realme, màu xanh kèm 02 sim điện thoại thu của bị cáo S không có căn cứ chứng minh có liên quan đến việc phạm pháp và 01 Căn cước công dân mang tên Trịnh Văn S là giấy tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo S.

Số tiền 950.000 đồng là tiền S bán ma túy cho K hồi 16 giờ 30 phút và 20 giờ 30 phút cùng ngày 27/5/2024 do S đã ăn tiêu hết nên truy thu buộc bị cáo S phải nộp lại sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 Xe mô tô BKS 14U1-391.64 quá trình điều tra đã trả lại anh Phạm Ngọc D1 nên không đề cập.

[5] Bị cáo S khai nhận số ma túy đá bán cho K là mua của người tên G không rõ lai lịch, địa chỉ; trước đây S đã nhiều lần bán ma túy cho K nhưng không nhớ thời gian, địa điểm nên đều không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn S;

Căn cứ: điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A;

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc K.

Tuyên bố:

Các bị cáo Trịnh Văn S, Nguyễn Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Trương Ngọc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trịnh Văn S 08 (tám) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 28/5/2024.

Xử phạt: Nguyễn Tuấn A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2024.

Xử phạt: Trương Ngọc K 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/5/2024.

Căn cứ: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng (điện thoại thu giữ của Trịnh Văn S); 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, màn hình có vết nứt (điện thoại thu giữ của Trương Ngọc K), các điện thoại đều đã cũ, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,12 gam ma túy, loại Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại trong 01 Phong bì niêm phong số 777/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 chiếc sim, trên sim có 4 dãy số: 8984, 04800, 09340, 94262 thu của Trịnh Văn S; 01 chiếc sim thu của Trương Ngọc K trên sim có 2 dãy số: [...], 11440112066.

Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn S 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình có vết nứt vỡ (điện thoại thu của Trịnh Văn S), điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Trịnh Văn S và 02 Chiếc sim điện thoại còn lại được thi hành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16/BB-THA ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Truy thu buộc bị cáo Trịnh Văn S phải nộp lại 950.000 đồng tiền thu lợi bất chính nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trịnh Văn S, Trương Ngọc K, Nguyễn Tuấn A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh ;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - CQĐT CA thành phố Cẩm Phả;
  • - CQTHA HS thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS tp Cẩm Phả;
  • - Cơ sở giam giữ;
  • - Các bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HS - VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Gái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trịnh Văn S, Nguyễn Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Trương Ngọc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger