Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày 21/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà

Ông Nguyễn Xuân Tùng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Lương, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Ngọc T. Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 01/7/1997; tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ E, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Ngọc T1 (Chết) và bà Trần Thị V (Sn: 1966).

Tiền án: Ngày 18/4/2018, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo bản án số 128/2018/HS-PT;

Nhân thân:

  • - Ngày 31/01/2013, bị UBND quận N, thành phố Đà Nẵng đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 184/QĐ-UBND.
  • - Ngày 06/12/2015, bị Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận H, thành phố Đà Nẵng từ ngày 12/01/2024, có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

2. Họ và tên: Đặng Văn Đ. Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 16/10/1997; tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 01 H, tổ H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Đặng Văn T2 (S: 1971) và bà Đỗ Thị L (S: 1975).

Tiền án: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 11/5/2015, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 32/2015/HS-ST.
  • Ngày 17/5/2018, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 3 năm tù về tội Giết người theo bản án số 160/2018/HS-PT;

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận H, thành phố Đà Nẵng từ ngày 12/01/2024, có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251.

3. Họ và tên: Bùi Văn P. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/7/1995; tại tỉnh Quảng Ngãi; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Bùi E (S: 1973) và bà Nguyễn Thị H (Sn: 1979)

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an thành phố Đ từ ngày 12/01/2024, có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ngân hàng TMCP Đ2
  • Địa chỉ: C N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H1, sinh năm 1986 – Chức vụ: Phó trưởng phòng QLRR (Giấy ủy quyền số 1474/GUQ-BIDV.DQ lập ngày 20 tháng 9 năm 2024). Có mặt
  • - Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1999. Có mặt
  • Địa chỉ: Đ, Thôn C, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người làm chứng:

  • Bà Trần Nghi D, sinh năm 2001. Có mặt
  • Địa chỉ: Kiệt G, tổ E, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng.
  • Ông Trần Văn T3, sinh năm 1998. Vắng mặt
  • Địa chỉ: A N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng.
  • Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1998. Có mặt
  • Địa chỉ: Tổ D, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Phạm Ngọc T đã mua ma túy của V1 (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 200.000đồng/01 viên thuốc lắc và 6.000.000 đồng/01 hộp 10 ma túy Ketamine để bán lại kiếm lời. Từ ngày 24/11/2023 đến ngày 11/01/2024, T đã 03 lần bán ma túy cho Đặng Văn Đ, thu lợi bất chính 3.500.000 đồng. Cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 24/11/2023, T bán cho Đ 20 viên ma túy thuốc lắc, 01 hộp 10 và 01 hộp 5 ma túy Ketamine với giá 14.500.000 đồng (cả hai thỏa thuận giá 200.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 7.000.000 đồng/01 hộp 10 ma túy Ketamine). Đ chuyển khoản tiền mua ma túy qua tài khoản ngân hàng V2 số [...] của T. Sau đó, T đem ma túy đến để tại đường K, thành phố Đà Nẵng rồi chụp hình và gửi vị trí để Đ tự đến lấy. T thu lợi bất chính số tiền 1.500.000 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 06/01/2024, T bán cho Đ 25 viên ma túy thuốc lắc, 01 hộp 10 ma túy Ketamine với giá 12.000.000 đồng (cả hai thỏa thuận giá 200.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 7.000.000 đồng/01 hộp 10 ma túy Ketamine). Đ chuyển khoản trước 4.000.000 đồng tiền mua ma túy qua tài khoản ngân hàng V2 số [...] của T, nợ lại 8.000.000 đồng. Sau đó, T đem ma túy đến để tại đường K, thành phố Đà Nẵng rồi chụp hình và gửi vị trí để Đ tự đến lấy. T thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng.
  • - Lần 3: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, T bán cho Đ 01 hộp 10 ma túy Ketamine với giá 7.000.000 đồng. Đ chuyển khoản 30.000.000 đồng (trong đó: 7.000.000 đồng tiền mua ma túy, 8.000.000 đồng là tiền nợ trước đó và 15.000.000 đồng là tiền cho Thạch mượn) qua tài khoản ngân hàng V2 số [...] của T. Sau đó, do bận việc nên T liên lạc và nhờ Trần Nghi D (Sinh ngày: 28/9/2001, sống chung như vợ chồng với T tại K đường N, thành phố Đà Nẵng) đem bao nilong đen (bên trong chứa ma túy) đến đầu kiệt A đường N giao lại cho Đ. D không biết bên trong chứa ma tuý. T thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng.

Đến 14 giờ 00 ngày 12/01/2024, sau khi nghe thông tin Đ bị bắt thì T đến Công an quận H đầu thú, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gắn sim số 0939661191, số I: 359702375180716 và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cơ quan CSĐT Công an quận H tiến hành khám xét chỗ ở của T tại K đường N, tổ E, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Kết quả khám xét không thu giữ được gì thêm.

Từ ngày 24/11/2024 đến ngày bị bắt (ngày 11/01/2024), bị cáo Đặng Văn Đ đã 03 lần mua ma túy của bị cáo T rồi đem về bán lại cho người khác với giá 250.000đồng/01 viên thuốc lắc, 10.000.000 đồng/ 01 hộp 10 ma túy Ketamine, trong đó đã 03 lần bán cho Bùi Văn P, thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng. Cụ thể:

  • - Lần 1: Khoảng cuối tháng 11/2023, tại trước siêu thị K đường V, thành phố Đà Nẵng, Đ bán 01 chỉ ma túy Ketamine cho P với giá 1.500.000 đồng, P trả tiền mặt. Đ thu lợi bất chính số tiền 300.000 đồng.
  • - Lần 2: Khoảng cuối tháng 12/2023, tại trước siêu thị K đường V, thành phố Đà Nẵng, Đ bán 01 chỉ ma túy Ketamine cho P với giá 1.500.000 đồng, P trả tiền mặt. Đ thu lợi bất chính số tiền 300.000 đồng.
  • Lần 3: Khoảng 21 giờ ngày 11/01/2024, khi Đ, P và Trần Văn T3 (Sinh năm: 1998, trú: Tổ F, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng) đang ngồi trên xe ô tô biển số 76A - 07721 thì có một thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) liên lạc với P hỏi mua 05 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine, P đồng ý bán với giá 4.500.000 đồng (300.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 3.000.000 đồng/nửa hộp 5 ma túy Ketamine). Do không có sẵn ma túy nên P mua của Đ 05 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine với giá 3.750.000 đồng (250.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 2.500.000 đồng/nửa hộp 5 ma túy Ketamine; toàn bộ số ma túy này là Đ mua của T vào ngày 11/01/2024 và ngày 06/01/2024). P chưa trả tiền cho Đ.

Trong ngày 11/01/2024, Bùi Văn P đã 02 lần bán ma túy cho người khác. Cụ thể:

  • - Lần 01: Khoảng 18 giờ 00 ngày 11/01/2024, khi P đang điều khiển xe ô tô biển số 76A-07721 chở Đ, T3 đi chơi thì có một thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) liên lạc với P hỏi mua 05 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine, P đồng ý bán với giá 4.500.000 đồng, hẹn giao dịch tại trước tòa nhà F, địa chỉ số A L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, P đến điểm hẹn, bỏ ma túy trong gói thuốc lá rồi giao cho thanh niên này và nhận 4.500.000 đồng (Việc giao dịch mua bán ma túy diễn ra trong xe ô tô biển số 76A-07721, Đ và T3 đều thấy).
  • - Lần 02: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, có người gọi điện hỏi mua của P 05 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine. P hỏi Đ để mua số ma túy trên. Đ đồng ý bán giá 250.000 đồng/viên thuốc lắc và 2.500.000đồng/nửa hộp 5 Ketamine. P điều khiển xe ô tô biển số 76A-07721 chở Đ về nhà Đ và chờ Đ lấy ma túy. Sau đó, P chở Đ, T3 đến điểm hẹn trước tòa nhà F. Lúc này, P đem 05 viên thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine rồi cùng Đ đi lên thang máy trong tòa nhà F để bán nhưng chưa bán được thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận H phát hiện bắt quả tang.

Ngoài ra, ngày 06/01/2024, P mua 01 viên ma túy thuốc lắc của một thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 300.000 đồng. P đã sử dụng hết nửa viên, còn lại nửa viên P cất giấu tại chỗ ở là Phòng 401, khách sạn L1, số G đường V, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng để sử dụng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Tại khu vực thang máy tòa nhà F, bên cạnh chân phải của P có 01 gói nilong kích thước (7,6x4)cm chứa 05 viên nén màu xanh và các tinh thể rắn màu trắng (P khai nhận là ma túy thuốc lắc và Ketamine của P, đang đi bán thì bị phát hiện nên đã vứt xuống). Đã niêm phong ký hiệu A.
  • - 1 ĐTDĐ Iphone màu xanh và 01 ĐTDĐ Iphone màu tím của P (P khai nhận gắn sim số 0766607721 và 0935406710; Đã lập biên bản việc P không cung cấp mật khẩu nên không tiến hành kiểm tra được).
  • - Số tiền 18.000.000 đồng (P khai nhận trong đó có 4.500.000 đồng là tiền bán ma túy lúc 18 giờ 00 phút ngày 11/01/2024).
  • - 01 ĐTDĐ mặt sau có hình "táo khuyết", bị vỡ mặt trước và mặt sau của Đ (Đ đã tự đập vỡ lúc bị bắt quả tang nên không tiến hành kiểm tra được).
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận H tiến hành khám xét xe ô tô biển số 76A-07721 do P điều khiển. Kết quả kiểm tra phát hiện thu giữ:
  • - Tại cốp đựng đồ giữa hai ghế trước có 02 gói nilong kích thước (7x4)cm, bên trong đều chứa các tinh thể rắn màu trắng (Đ khai nhận là ma túy Ketamine của Đ để trên xe của P, mục đích để bán kiếm lời; P khai nhận là ma túy Ketamine của Đ). Đã niêm phong ký hiệu B.
  • - Tại chỗ để chân hàng ghế sau có 01 túi màu xanh, dài khoảng 1,2m, bên trong chứa 11 cây dao tự chế các loại và 01 cây tuýp kim loại; Tại cốp sau có 01 túi màu đen, dài khoảng 90 cm, bên trong chứa 09 cây dao tự chế các loại và 02 cây gậy bóng chày (Đ và P đều khai nhận đây là vũ khí tự chế của Đ1 nhờ chở giúp qua quận V3).
  • - 01 xe ô tô biển số 76A-07721 của P (Kết quả điều tra xác định do Bùi Văn P đứng tên chủ sở hữu. Hiện đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ2 - Chi nhánh Đ1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2018/11262664/HĐBĐ).
  • Tại thời điểm kiểm tra, trên xe ô tô có Trần Văn T3.

Cơ quan CSĐT Công an quận H tiến hành khám xét:

  • - Chỗ ở của Bùi Văn P tại Phòng 401, khách sạn L1, số G V, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Kết quả khám xét thu giữ:
  • Trên kệ tủ trong phòng ngủ có 01 mảnh vỏ viên nén màu xanh (P khai nhận là ma túy thuốc lắc của P để sử dụng). Đã niêm phong ký hiệu C.
  • - Chỗ ở của Đặng Văn Đ tại nhà số Đ H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Kết quả khám xét không thu giữ gì thêm.

Kết quả thử test, T, Đ, D, P, T3 đều dương tính với ma túy.

Ngày 18/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã tiến hành phong tỏa số tiền 5.000.000 đồng có trong tài khoản ngân hàng số [...] của Đặng Văn Đ và số tiền 1.000.000 đồng có trong tài khoản ngân hàng số [...] của Phạm Ngọc T.

Kết luận giám định số: 94/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận:

  • - Mẫu trong bì niêm phong ký hiệu A được chia thành hai mẫu có ký hiệu như sau: 05 viên nén màu xanh ký hiệu A1, tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A2.
  • - Các viên nén màu xanh ký hiệu A1 và mảnh vỏ viên nén màu xanh ký hiệu C gửi giám định là ma túy loại MDMA; khối lượng mẫu A1: 2,564gam, mẫu C: 0,267gam.
  • - Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A2, B gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu A2: 1,285gam, mẫu B: 2,952 gam.

Như vậy:

  • - Tổng khối lượng các chất ma túy mà T, Đ bán là 2,564gam ma túy loại MDMA (A1) và 4,237gam ma túy loại Ketamine (A2 + B).
  • Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS năm 2015, tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng ma túy được tính là: (2,564gam/5gam) x 100% + (4,237gam/20gam) x 100% = 72,465% < 100%. Do đó, tổng khối lượng của 02 chất ma túy MDMA và Ketamine mà T, Đ mua bán trái phép thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
  • - Tổng khối lượng các chất ma túy mà P bán là 2,564gam ma túy loại MDMA (A1) và 1,285 gam ma túy loại Ketamine (A2).
  • Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của BLHS năm 2015, tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng ma túy được tính là: (2,564 gam/5gam) x 100% + (1,285 gam/20gam) x 100% = 57,705% < 100%. Do đó, tổng khối lượng của 02 chất ma túy MDMA và Ketamine mà P mua bán trái phép thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Kết luận giám định số: 172/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận:

  • - Hai mươi cây dao tự chế gửi giám định ký hiệu A1 có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.
  • - 01 cây tuýp kim loại gửi giám định ký hiệu A2 và 02 cây gậy bóng chày gửi giám định ký hiệu A3 không có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

Quá trình điều tra, T, Đ, P đều khai nhận hành vi phạm tội như trên; lời khai của các bị cáo đều phù hợp với những vật chứng tạm giữ; các bản Kết luận giám định; các bản sao kê lịch sử giao dịch của tài khoản ngân hàng, các biên bản nhận dạng; lời khai người chứng kiến, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xử lý vật chứng:

  • - Đối với 20 cây dao tự chế các loại, 01 cây tuýp kim loại và 02 cây gậy bóng chày, hiện nay Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục tạm giữ để chờ kết quả xử lý của UBND quận H.
  • - Toàn bộ những vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu để bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Đối với Trần Nghi D có hành vi giao bao nilong đen có chứa ma túy cho Đ theo yêu cầu của T, tuy nhiên D không biết bên trong bao nilong đen có chứa ma túy; quá trình sống chung với T thì D không biết và không giúp sức cho T mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của D không cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 251 BLHS với vai trò đồng phạm. Vì vậy, không kết luận xử lý.

Đối với Trần Văn T3 cùng đi trên xe ô tô biển số 76A-07721, T3 không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy của P, Đ; không tham gia vào việc vận chuyển số hung khí đã thu giữ. Vì vậy, không đề cập, kết luận xử lý đối với T3.

Tại bản cáo trạng số 84/LTG-VKS-HC ngày 05/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc T, Đặng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249.

Quá trình tố tụng tại phiên tòa, xác định được bị cáo Đặng Văn Đ đã chấp hành xong toàn bộ bản án số 160/2018/HS-PT ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Bị cáo đã được xóa án tích do đó không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đại diện viện kiểm sát đã rút một phần nội dung truy tố đối với bị cáo Đ về tình tiết tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và giữ nguyên các nội dung truy tố khác, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn P từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn P từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng Điều 55 BLHS đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo P.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với toàn bộ mẫu ma túy hoàn trả sau giám định; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 04 điện thoại di động các bị cáo đã dùng liên lạc mua bán ma túy; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 1/2 giá trị xe ô tô biển số 76A-07721 của bị cáo P. Truy thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 3.500.000 đồng bị cáo T thu lợi bất chính, số tiền 600.000 đồng bị cáo Đ thu lợi bất chính. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 4.500.000 đồng bị cáo P do bán ma túy mà có được, tuyên trả lại số tiền 13.500.000 cho bị cáo P.

- Các bị cáo thừa nhận cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ2 đề nghị HĐXX đảm bảo quyền lợi của ngân hàng khi xử lý vật chứng xe ô tô biển số 76A-07721 của bị cáo P.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 yêu cầu được nhận lại xe ô tô biển số 76A-07721 vì đây là tài sản chung của vợ chồng bà và bà không biết việc bị cáo P dùng vào việc phạm tội.

- Người làm chứng bà Trần Nghi D trình bày lời khai phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo. Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc T4 có mặt tại phiên tòa, trình bày lời khai thừa nhận việc bị cáo Đặng Văn Đ đã thực hiện bồi thường xong cho ông số tiền 3.000.000 đồng theo bản án số 160/2018/HS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Người làm chứng Trần Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án xác định:

Từ ngày 24/11/2023 đến ngày 11/01/2024, bị cáo Phạm Ngọc T đã 03 lần mua ma túy thuốc lắc và ma túy Ketamine của V1 (Không rõ lai lịch, địa chỉ) rồi đem về bán lại cho Đặng Văn Đ 03 lần, với giá 200.000đồng/01 viên thuốc lắc, 7.000.000 đồng/ 01 hộp 10 ma túy Ketamine, mỗi lần bán từ 7.000.000 đồng đến 14.500.000đồng, thu lợi bất chính số tiền 3.500.000 đồng. Tổng khối lượng 02 chất ma túy Thạch bán trái phép là 2,564gam ma túy loại MDMA và 4,237 gam ma túy loại Ketamine. Bị cáo T đã bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo bản án số 128/2018/HS-PT ngày 18/4/2018, chưa được xóa án tích đã phạm tội mới, do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Từ ngày 24/11/2024 đến ngày 11/01/2024, bị cáo Đặng Văn Đ đã 03 lần mua ma túy thuốc lắc và ma túy Ketamine của T rồi đem về bán lại cho người khác với giá 250.000đồng/01 viên thuốc lắc, 10.000.000đồng/ 01 hộp 10 ma túy Ketamine, trong đó đã 03 lần bán cho Bùi Văn P, mỗi lần bán từ 1.500.000 đồng đến 4.500.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng. Tổng khối lượng 02 chất ma túy Đ bán trái phép là 2,564 gam ma túy loại MDMA và 4,237gam ma túy loại Ketamine.

Tại Cáo trạng số 84/LTG-VKS-HC ngày 05/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đặng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, do xác định được bị cáo Đ đã chấp hành xong toàn bộ bản án số 160/2018/HS-PT ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Bị cáo đã được xóa án tích do đó không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đại diện viện kiểm sát đã rút một phần nội dung truy tố đối với bị cáo Đ về tình tiết tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là phù hợp, cần chấp nhận. Như vậy, hành vi của bị cáo Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Trong ngày 11/01/2024, Bùi Văn P đã 02 lần bán ma túy cho nam thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) tại tòa nhà F, mỗi lần bán 05 viên ma túy thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine, với giá mỗi lần bán là 4.500.000 đồng, trong đó lần đầu đã bán thành công, 01 lần chưa bán được thì bị bắt quả tang. Tổng khối lượng 02 chất ma túy P bán trái phép là 2,564gam ma túy loại MDMA và 1,285gam ma túy loại Ketamine.

Ngoài ra, P còn tàng trữ 0,267gam ma túy loại MDMA để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng. Ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh, tạo ra ảo giác, là tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, được nhà nước quản lý nghiêm nhưng bị cáo vẫn bất chấp lao vào con đường phạm tội. Đối với loại tội phạm này cần phải được nghiêm trị nên cần cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, nên cần được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình. Bị cáo Phạm Ngọc T sau khi biết Đ bị bắt đã đến cơ quan công an xin đầu thú do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Văn Đ trong quá trình điều tra đã tự khai nhận các hành vi bán ma túy trước đó, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe ô tô biển số 76A-07721 của bị cáo P, HĐXX xét thấy đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Quyền lợi của ngân hàng TMCP Đ2 đối với tài sản thế chấp là xe ô tô nêu trên và quyền lợi của bà Nguyễn Thị H2 về quyền sở hữu tài sản chung đối với xe ô tô nêu trên được giải quyết theo quy định về khởi kiện vụ án dân sự.
  • - Đối với 04 điện thoại di động thu của các bị cáo là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 3.500.000 đồng bị cáo T thu lợi bất chính, số tiền 600.000 đồng bị cáo Đ thu lợi bất chính cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 4.500.000 đồng bị cáo P do bán ma túy mà có được, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Hoàn trả cho bị cáo P số tiền 13.500.000 đồng còn lại.

[6] Về biện pháp cưỡng chế: Căn cứ Điều 126, 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục duy trì các lệnh phong tỏa đối với số tiền có trong tài khoản:

Tài khoản số [...] của Phạm Ngọc T tại Ngân hàng TMCP C chi nhánh S theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 80/LPT-ĐCSMT ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng số tiền là 1.000.000 đồng.

Tài khoản số [...] của Đặng Văn Đ tại Ngân hàng TMCP Q chi nhánh Đ3 theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 89/LPT-ĐCSMT ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng số tiền là 5.000.000 đồng.

Để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

[7] Đối với:

  • - Đặng Văn Đ, Bùi Văn P có hành vi vận chuyển 01 cây tuýp kim loại; 02 cây gậy bóng chày; 20 cây dao tự chế các loại có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ, Công an quận H đã có Tờ trình số 3860/TTr-CAQ ngày 05/6/2024 đề nghị Chủ tịch UBND quận H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Phạm Ngọc T, Đặng Văn Đ, Bùi Văn P, Trần Nghi D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận H, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Trần Văn T3 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng.
  • - V1 là người đã bán ma túy cho T, thanh niên mua ma túy của P, Đ1 có hành vi nhờ Đ chở giúp hung khí, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

[8] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Ngọc T, Đặng Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2024.

  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ 8 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2024.

  5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  6. Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 1 (một) năm tù.

    Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt, bị cáo Bùi Văn P phải chấp hành 8 (tám) năm 3 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2024.

  7. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
  8. Buộc bị cáo Phạm Ngọc T nộp lại số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng), bị cáo Đặng Văn Đ nộp lại số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào ngân sách nhà nước.

  9. Về biện pháp cưỡng chế: Căn cứ Điều 126, 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục duy trì các lệnh phong tỏa đối với số tiền có trong tài khoản:
  10. Tài khoản số [...] của Phạm Ngọc T tại Ngân hàng TMCP C chi nhánh S theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 80/LPT-ĐCSMT ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng số tiền là 1.000.000 đồng.

    Tài khoản số [...] của Đặng Văn Đ tại Ngân hàng TMCP Q chi nhánh Đ3 theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 89/LPT-ĐCSMT ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng số tiền là 5.000.000 đồng.

    Để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

  11. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
    • - Tịch thu, tiêu hủy đối với toàn bộ mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm: 1,247 gam mẫu A1, 0,732 mẫu A2, 2,129 gam mẫu B còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động 01 ĐTDĐ Iphone màu vàng gắn sim số 0939661191, số Imei: 359702375180716 của bị cáo Phạm Ngọc T; 01 ĐTDĐ mặt sau có hình "táo khuyết", bị vỡ mặt trước và mặt sau của bị cáo Đặng Văn Đ (Đ đã tự đập vỡ lúc bị bắt quả tang nên không kiểm tra được); 01 ĐTDĐ Iphone màu xanh và 01 ĐTDĐ Iphone màu tím của Bùi Văn P (P khai nhận gắn sim số 0766607721 và 0935406710; Không kiểm tra được do P không cung cấp mật khẩu).
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại: ELANTRA, màu sơn: màu trắng, loại xe: ô tô con, số máy: G4FGJU192258, số khung: 41CAJN009497, dung tích xi lanh: 1591cm³, năm sản xuất: 2018, biển số 76A-07721 đứng tên Bùi Văn P.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 4.500.000 đồng do bán ma túy mà có của bị cáo Bùi Văn P. Trả lại cho bị cáo P số tiền còn lại 13.500.000 đồng.

    (Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu đang quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30 tháng 7 năm 2024)

  12. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  13. Bị cáo Phạm Ngọc T, Đặng Văn Đ, Bùi Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  14. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên các bị cáo Phạm Ngọc T, Đặng Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger