|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày: 13/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Văn Bạo
Ông Vũ Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Phương D - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Quang T (tên gọi khác: D1, Dũng L), sinh ngày 19/5/1983 tại thành phố Đà Nẵng;
Nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ G, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S (Phạm Văn S1) và bà Đỗ Thị L1; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 09/6/2022 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng theo quyết định số: 32/2022/QĐ-TA cùng ngày.
Nhân thân:
- - Ngày 30/9/2013 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số: 133/2013/HSST.
- - Ngày 29/02/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo quyết định số: 25/2016/QĐ-TA cùng ngày.
- - Ngày 27/11/2018 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo quyết định số: 82/2018/QĐ-TA cùng ngày.
- - Ngày 18/02/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng theo quyết định số: 16/2020/QĐ-TA cùng ngày.
- - Ngày 06/8/2024 bị Công an quận L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng theo quyết định số 369/QĐ-XLHC cùng ngày.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 11/5/2024, tạm giam ngày 20/5/2024. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Phạm Công D2, sinh năm 1988; Địa chỉ: đường B, tổ I, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- + Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số nhà A đường T, tổ G, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 11/5/2024, tại khu vực Đ đường L giao đường K, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; lực lượng Phòng, chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng H phát hiện bắt quả tang Phạm Quang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật tạm giữ:
- - 01 (một) gói nilon màu trắng, kích thước khoảng 8,3cm x 05cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu B1;
- - 01 xe mô tô hiệu Vespa, BKS: 43D1-396.02;
- - 01 (một) ĐTDĐ OPPO màu xanh đen gắn thẻ sim 0899228821.
- - Tiền Việt Nam: 500.000 đồng.
Theo Kết luận giám định số 368/GĐ-MT ngày 16/5/2024 của Phòng K - Công an T3, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu B1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu: 1,244 gam.
Quá trình điều tra, Phạm Quang T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 11/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T điều khiển xe máy Vespa, BKS: 43D1-396.02 đi đến một chung cư ở đường D, S, Đà Nẵng (không nhớ địa chỉ cụ thể) để mua ma tuý đá. T để xe máy dưới sân và đi lên phòng 202 rồi gõ cửa thì được một người đàn ông mở cửa (không rõ nhân thân lai lịch). T hỏi mua ma tuý và đưa cho người đàn ông này số tiền 1.000.000 đồng. Người này nói T đi xuống sân chờ và sau đó ném xuống cho T một bao thuốc lá bên trong có một gói ma tuý đá. T lấy gói ma tuý và điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang ở nhà thì có một người bạn tên là Ba X (tên thật Nguyễn Phạm Công D2) gọi điện nhờ T chở đi có việc. T đi đón và chở Ba X đến ngôi nhà nằm trong kiệt trên đường B, P. H, Q. L để Ba X lấy cái Ipad được em gái cho. Sau đó cả hai đi về đến khu vực đường L giao với đường K, phường H, quận L thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng kiểm tra hành chính và bắt quả tang như trên. Việc T tàng trữ trái phép chất ma túy Ba X không biết.
Tại bản cáo trạng số: 120/CT-VKS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quang T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu OPPO màu xanh đen gắn thẻ sim số 0899008821; trả lại cho bà L1 01 (một) xe mô tô hiệu V, BKS: 43D1-396.02; tạm giữ số tiền 500.000 đồng của bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào lúc 19 giờ 50 phút, ngày 11/5/2024, tại khu vực Đ đường L giao đường K thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Phạm Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,244 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Phòng, chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng H phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt.
- [4] Xét hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện việc tàng trữ trái phép ma tuý. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tổn hại đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án xét xử và áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội về ma túy nên cần áp dụng khoản khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- [6] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả theo bản kết luận giám định số 368/GĐ-MT ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an thành phố T3, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen gắn thẻ sim số 0899228821, tiền Việt Nam 500.000 đồng tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với xe gắn máy hiệu Vespa, BKS: 43D1-396.02 là thuộc sở hữu của bà Đỗ Thị L1, bà L1 không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma túy nên cần trả lại xe nói trên cho bà Đỗ Thị L1 là phù hợp.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [8] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:
- [8.1] Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
- [8.2] Đối với Nguyễn Phạm Công D2 đi chung với bị cáo lúc bị bắt quả tang nhưng D2 không liên quan và không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
- [8.3] Đối với bà Đỗ Thị L1 không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô của mình đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 11/5/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt tiền bị cáo Phạm Quang T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) bì giấy niêm phong ký hiệu B1 đựng mẫu hoàn trả là chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định của Phòng K Công an thành phố T3.
Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen gắn thẻ sim số 0899228821 và số tiền 500.000 đồng của bị cáo Phạm Quang T để đảm bảo thi hành án.
T1 trả lại cho bà Đỗ Thị L1 01 (một) xe gắn máy hiệu Vespa màu xanh, BKS: 43D1-396.02.
(Toàn bộ vật chứng hiện Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Quang T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Anh Tuấn |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang Th phạm tội tàng trữ ma túy
