|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày 20-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cương.
Bà Đoàn Kim Bình.
Ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Hiếu N, sinh năm 1996 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Đ và bà Trần Thị Trung T; bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Trần Thị Phương Đ1 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 14/02/2015, bị Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 18/8/2023 cho đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Hữu N1, sinh năm 2000 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt truy nã từ ngày 03/4/2024, hiện nay bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hiếu N:
1. Ông Bùi Hồng N2 là Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương, có mặt.
2. Ông Trần Thanh A là Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu N1: Ông Võ Minh T1 là Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Phước V1, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Lê Thị N3, sinh năm 1974, vắng mặt.
2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1970, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phước V1 ở trọ tại phòng số 1, nhà T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Huỳnh Hiếu N (tên gọi khác: B) là bạn với nhau. Do ông V1 và Hiếu N phát sinh mâu thuẫn nên khoảng 20 giờ ngày 29/6/2020, anh V1 đi cùng 04 thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà của Hiếu N tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương tìm Hiếu Nghĩa để giải quyết mâu thuẫn nhưng không gặp được Hiếu N.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Hiếu N về nhà và biết sự việc ông V1 đi cùng nhóm thanh niên đến tìm nên Hiếu N đi vào nhà lấy 01 dao tự chế bằng kim loại, dài khoảng 50cm giấu ở phía sau áo để đi đánh ông V1. Lúc này, Nguyễn Hữu N1 (cháu của Hiếu N) đến chơi thì Hiếu N kể lại sự việc trên và rủ Hữu N1 đi tìm đánh anh V1 thì Hữu N1 đồng ý. Hiếu N lấy 01 rựa dài khoảng 80cm có cán bằng gỗ ở phía trước nhà đưa cho Hữu N1 để ở baga xe mô tô hiệu Yamaha Nozza, màu trắng, biển số 61E1-276.47. Sau đó, Hữu N1 điều khiển xe mô tô trên chở Hiếu N đi đến phòng trọ của ông V1 để đánh ông V1. Khi đến phòng trọ của ông V1 tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Hữu N1 dừng xe phía trước cổng nhà trọ để cảnh giới, Hiếu N đi vào phòng số 1 yêu cầu V1 ra phía trước nhà trọ nói chuyện, ông V1 đồng ý đi theo Hiếu Nghĩa. Tại đoạn đường phía trước nhà trọ B1, Hiếu N hỏi anh V1 lý do đến phá phách nhà của Hiếu N nhưng ông V1 không thừa nhận nên cả hai xảy ra tranh cãi. Lúc này, Hiếu N lấy dao tự chế giấu ở phía sau lưng rồi dùng tay phải cầm dao chém 01 nhát trúng vào vùng cổ trái của ông V1. Hiếu Nghĩa tiếp tục cầm dao chém 01 nhát thì ông V1 đưa tay lên đỡ nên bị chém trúng vào tay phải. Bà Lê Thị N3 (mẹ ruột của ông V1) chạy đến can ngăn, đồng thời truy hô người dân đến ngăn cản nên Hữu N1 điều khiển xe
mô tô chở Hiếu Nghĩa tẩu thoát khỏi hiện trường. Khi cả hai đi được khoảng 100 mét, Hiếu N ném dao tự chế ở khu đất trống bên đường (không nhớ rõ vị trí) rồi đi về nhà. Còn ông V1 được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu, điều trị đến ngày 28/7/2020, ông V1 đến Công an phường T, thành phố T trình báo sự việc trên.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 466 ngày 01/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương đối với ông Trần Phước V1, kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Vết thương cổ trái (9,5 x 0,4)cm, đứt cơ ức đòn chũm đã khâu, sẹo lành.
- - Vết thương mặt trước cổ tay phải (6,5 x 0,3)cm, vết thương ngón I tay phải (2,3 x 0,3)cm, sẹo lành.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 07% (bảy phần trăm).
3. Cơ chế hình thành vết thương:
- - Vết thương cổ trái đứt cơ ức đòn chũm: Chiều nằm ngang từ trước ra sau, hướng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
- - Vết thương mặt trước cổ tay phải, vết thương ngón I tay phải: Chiều từ dưới lên chếch từ phải sang trái, hướng từ trước ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra (Bút lục số 49).
Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án số 238/QĐ-ĐTTH về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Ngày 25/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố bị can số 589 đối với Huỳnh Hiếu N về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự số 08 về tội "Giết người".
Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can số 33 đối với Huỳnh Hiếu N từ tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 sang tội “Giết người” quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Ngày 03/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố bị can số 16 đối với Nguyễn Hữu N1 về tội "Giết người" quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Ngày 17/8/2023, Hiếu N bị lực lượng Công an bắt giữ tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố bị can số 16 và Lệnh bắt bị can để tạm giam số 18 đối với Nguyễn Hữu N1, sinh năm 2000; Nơi thường trú: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng về tội “Giết người” quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, Hữu N1 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 19/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương ra Quyết định truy nã số 232 đối với H, cùng ngày 19/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương ra Quyết định tách vụ án số 225, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can số 231, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 233.
Ngày 03/4/2024, Công an phường T, thành phố T bắt được Hữu N1 theo Lệnh truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương.
Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can, nhập vụ án để điều tra theo quy định.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Nozza, màu trắng, biển số 61E1-276.47 do bà Trần Thị Phương Đ1 (người sống chung như vợ chồng với Hiếu N), sinh năm 1991; nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, chị Đ1 cho biết vào năm 2022 đã cầm cố xe mô tô trên cho một tiệm cầm đồ (không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) ở khu vực phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, bà Đ1 không có tiền để đóng lãi nên tiệm cầm đồ đã tiến hành thanh lý xe mô tô trên.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trần Phước V1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng). Gia đình bị cáo Hiếu N đã bồi thường toàn bộ số tiền trên.
Cáo trạng số 137/CT-VKSBD-P2 ngày 07/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ và cáo trạng truy tố bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: không; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: bị cáo Huỳnh Hiếu N đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo, quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu N1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những căn cứ nên trên, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; Điều 15; Điều 38 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Huỳnh Hiếu N mức án từ 08 năm đến 09 năm tù; áp dụng điểm điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 15; Điều 38 và Điều 57 Điều 58 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: do gia đình bị cáo Huỳnh Hiếu N đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu thêm nên không xem xét; về xử lý vật chứng: do không thu hồi được vật chứng nên không tiến hành xử lý.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hiếu N là ông Bùi Hồng N2 trình bày lời bào chữa: đồng ý về tội danh Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Về mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù kính mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn nhưng bị cáo có tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo còn 2 con nhỏ, phạm tội không có tình tiết tăng nặng, bị cáo không có ý thức tước đoạt mạng sống của bị hại và không mong hậu quả xảy ra, bị cáo phạm tội do sự hiếu thắng, nóng nảy không kiểm soát được hành vi của mình gây ra hậu quả đáng tiếc kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hiếu N là ông Trần Thanh A vắng mặt gửi Bản luận cứ bào chữa có nội dung: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nên không có ý kiến. Tôi xin bổ sung thêm một số quan điểm cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để làm cơ sở để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình. Về tình tiết tăng nặng bị cáo Huỳnh Hiếu N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Huỳnh Hiếu N sau khi bị bắt bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại cũng có đơn xin không xử lý hình sự đối với bị cáo; bị cáo Huỳnh Hiếu N chưa có tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Huỳnh Hiếu N thực hiện hành vi phạm tội lỗi xuất phát một phần từ bị hại V1, do hai bên phát sinh mâu thuẫn từ trước bị hại V1 đi cùng 04 thanh niên không rõ nhân thân lai lịch đến nhà của bị cáo Hiếu N tìm bị cáo và đã đập phá nhà của bị cáo nên trong lúc bực tức và do bị cáo đã uống rượu trước đó dẫn đến bị cáo đã không giữ được bình tĩnh mà thực hiện hành vi phạm tội. Từ những trình bày nêu trên, căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Kính mong Hội đòng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huỳnh Hiếu N được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt theo quy định của pháp luật nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và tinh thần giáo dục cải tạo người phạm tội giúp họ sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Về dân sự do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận về mức bồi thường nên không có ý kiến.
Người bào chữa trình bày nội dung bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu N1: bị cáo Nguyễn Hữu N1 bị truy tố chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm giúp sức theo cáo trạng truy tố là phù hợp nên tôi không có ý kiến. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; về các tình tiết giảm nhẹ kính mong Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bãi nại và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 15 xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội hòa nhập xã hội.
Các bị cáo thống nhất lời trình bày của người bào chữa và không tranh luận thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Bình Dương đã truy tố, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/6/2020, bực tức vì nghĩ ông Trần Phước V1 đến nhà tìm đánh, Huỳnh Hiếu N rủ Nguyễn Hữu N1 cùng đi tìm ông V1 để đánh thì Hữu N1 đồng ý. Hữu N1 điều khiển xe mô tô chở Hiếu N mang theo 01 dao tự chế bằng kim loại, dài khoảng 50 cm và 01 rựa dài khoảng 80cm tìm đánh anh V1. Tại đoạn đường phía trước nhà trọ B1, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Hữu N1 đứng cảnh giới, Hiếu N dùng dao tự chế chém 02 nhát trúng vào vùng cổ trái, tay phải của ông V1 gây đứt cơ ức đòn chũm, vết thương mặt trước cổ tay phải, vết thương ngón I tay phải, tỷ lệ thương tích 07% (bảy phần trăm). Cáo trạng số 137/CT-VKSBD-P2 ngày 07/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo Huỳnh Hiếu N đã rủ Nguyễn Hữu N1 đi tìm đánh bị hại, bị cáo Huỳnh Hiếu N là người trực tiếp dùng dao tự chế chém 02 nhát trúng vào vùng cổ trái, tay phải của bị hại gây tỷ lệ thương tích 07% (bảy phần trăm), hành vi bị cáo đã thực hiện có khả năng tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, bị hại không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo Huỳnh Hiếu N đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu N1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị về tội danh, Điều luật và mức hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trần Phước V1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Gia đình bị cáo Huỳnh Hiếu N đã bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại và bị hại đã nhận số tiền bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Do cơ quan điều tra không thu hồi được vật chứng trong vụ án do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí sơ thẩm: các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 phạm tội “Giết người” (chưa đạt).
2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
2.1 Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hiếu N 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
2.2 Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
3. Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Huỳnh Hiếu N, Nguyễn Hữu N1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về giết người (chưa đạt)
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người (chưa đạt)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu N và đồng phạm phạm tội Giết người
