trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày: 02/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    • + Ông Phạm Quang Nghĩa
    • + Bà Trần Thị Kim Tân
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:

Ông Võ Công Văn – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/HSST - QĐ ngày 12/6/2024, đối với bị cáo:

Huỳnh Văn L

- sinh năm 1960 tại Tiền Giang

Nơi cư trú: ấp Suối Cát 1, xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở: khóm Tân Quới Đông, phường Trường An, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: làm thuê.

Con ông: Huỳnh Văn X, sinh năm 1924 (đã chết) và bà: Phạm Thị V, sinh năm 1925 (đã chết).

Vợ: Đoàn Thị Thúy L1, sinh năm 1963 (đã chết). Hiện bị cáo đang sống chung như vợ chồng với bà Võ Thị Thùy D, sinh năm 1963.

Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2000.

Tiền sự, tiền án: Không.

Bị bắt theo lệnh truy nã vào 06/02/2023 và giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Tập đoàn 8 xã L do ông Nguyễn Thái D1 – Tập đoàn trưởng làm đại diện (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  3. Nguyễn Văn H – sinh năm 1958 và Trần Lệ T – sinh năm 1963 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  5. Huỳnh Đoàn Phúc L2 – sinh năm 1993 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào thời điểm năm 1994, xã L được tách ra khỏi xã X (cũ), Huỳnh Văn L được phân công giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L từ năm 1994 đến năm 1997. Lợi dụng chức vụ được giao, L đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Vụ thứ nhất:

Ngày 12/4/1983, Ủy ban nhân dân huyện X ra Quyết định số 124 Công nhận Ban quản lý Tập đoàn 8 sản xuất nông nghiệp thuốc ấp Bình Minh xã X (cũ). Năm 1984, chuyển tên thành Tập đoàn H, ấp T (do ấp T thành lập mới tách ra khỏi ấp B cũ) thường gọi tên là “Tập đoàn 8”. Đến năm 1994, xã L tiếp tục được tách ra khỏi xã X. Ủy ban nhân dân huyện X chủ trương xoá bỏ các Tập đoàn sản xuất cũ để thành lập các ấp mới. Lợi biết các Tập đoàn là do các hộ dân tự góp tiền với nhau làm kinh tế, không chịu sự quản lý của Ủy ban về việc tổ chức thành lập cũng như hoạt động. Các Tập đoàn sau khi đã nộp thuế về cho Ủy ban nhân dân xã, số tiền còn lại chia lợi tức cho các thành viên trong Tập đoàn đồng thời giữ lại 1 phần làm quỹ hoạt động với mục đích phúc lợi cho các hộ dân trong Tập đoàn, người được giao giữ quỹ là Tập đoàn trưởng. Khi ông Nguyễn Thái D1 – Tập đoàn T đến gặp L về việc thay đổi tên thì L đã yêu cầu ông Nguyễn Thái D1 phải nộp số tiền quỹ của Tập đoàn H về Ủy ban nhân dân xã L để quản lý. Ông Dư tưởng thật nên đã giao 16 chỉ vàng 24K (quỹ hoạt động của Tập đoàn H) về cho L. Ủy ban nhân dân xã L không có chủ trương yêu cầu các Tập đoàn bàn giao quỹ hoạt động về cho xã quản lý mà do L hoàn toàn tự quyết định, không thông qua Ủy ban nhân dân xã và Hội đồng nhân dân xã. Khi nhận được vàng, L không viết biên nhận, không nhập vào quỹ của xã mà đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, các hộ dân đã yêu cầu ông Nguyễn Thái D1 phải thanh toán lại số vàng nên ông D1 đã làm đơn khiếu kiện L để đòi lại vàng trả cho bà con nhưng L bỏ trốn.

Vụ thứ hai:

Ngày 30/11/1986, ông Lâm Văn Q là Trưởng ấp T, xã X (cũ) thấy ông Nguyễn Văn H (cán bộ ấp đội) và Nguyễn Văn P (cán bộ Công an ấp) công tác nhưng không có lương, đời sống khó khăn nên đã xin chủ trương của xã cho ông H và ông P thuê đất làm hợp đồng trồng cà phê trên thửa đất công do ấp T đang trực tiếp quản lý, diện tích khoảng 8.000m². Thời hạn thuê là 10 năm (từ 01/01/1987 đến hết năm 1997). Sau khi thuê đất, ông H và ông P tự thoả thuận miệng phân chia ra mỗi người làm một nửa (khoảng 4.000m² đất) và khi làm thì sẽ tự nộp một phần hoa lợi thu được cho Ủy ban nhân dân xã theo tỉ lệ: Cá nhân làm 7, Nhà nước 3. Mỗi bên sẽ tự làm, tự đi nộp tiền cho xã không liên quan nhau. Phần đất của ông H thuê khoảng 4.000m² được ông H trồng cà phê. Từ 1987 đến hết 1989 do cà phê nhỏ chưa có thu nhập nên chưa nộp hoa lợi. Từ năm 1990 đến 1994 nộp hoa lợi cho Ban tài chính xã X (cũ). Từ năm 1994 nộp hoa lợi cho Ban tài chính xã L. Số lượng hoa lợi phát sinh ông H phải nộp hàng năm là 300 kg cà phê nhân khô được quy ra tiền theo giá thị trường nộp cho B tài chính xã. Đến năm 1995, gia đình ông H và bà T đến Ủy ban nhân dân xã G trực tiếp Huỳnh Văn L để hỏi thủ tục xin hoá giá thửa đất. Lợi biết rõ thẩm quyền hóa giá đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ họp, đề đạt chủ trương có hóa giá đất hay không và phải được thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp rồi làm Tờ trình gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định. Tuy nhiên, vì muốn có tiền tiêu xài nên lợi dụng chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, L đã yêu cầu ông H, bà T nộp tiền và vàng cho L nhiều lần (tổng cộng 5.000.000 đồng tiền mặt và 30 chỉ vàng 24K) để khi hết hạn hợp đồng thuê đất thì sẽ ưu tiên hóa giá đất cho gia đình ông H, bà T. Ông H, bà T đã nộp tiền, vàng cho L nên cũng ngưng nộp tiền hoa lợi cho Ban tài chính của Ủy ban nhân dân xã. Số tiền, vàng lấy được L đã tiêu xài cá nhân hết và không tổ chức họp Ủy ban nhân dân xã và Hội đồng nhân dân xã L, cũng không làm tờ trình về Ủy ban nhân dân huyện để xin chủ trương hoá giá phần đất trên. L cũng không nộp tiền, vàng vào ngân sách của xã.

Năm 1997, Hội đồng nhân dân xã L rà soát thấy thửa đất của ông H thuê sắp hết hạn hợp đồng yêu cầu ông H chuẩn bị trả lại thửa đất. Lúc này, ông H mới đưa ra Đơn xin hoá giá đất do L (đang là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K xác nhận). Lợi thừa nhận việc này, do không có khả năng trả lại số tiền, vàng đã chiếm đoạt nên đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Sau khi L trốn, ông H đi khiếu nại nhiều nơi. Ngày 04/04/2016, Ủy ban nhân dân huyện X có văn bản số 956/UBND-NL xác định quá trình sử dụng đất của ông H – bà T không có tranh chấp, không lấn chiếm đất nhà nước quản lý, mục đích sử dụng đất phù hợp quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không liên quan đến số tiền, vàng mà Huỳnh Văn L đã nhận. Vì vậy, ngày 20/5/2016, Ủy ban nhân dân huyện X đã cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho hộ ông Nguyễn Văn H và bà Trần Lệ T.

Như vậy, từ năm 1995 đến 1997, Huỳnh Văn L đã lợi dụng chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L và sự tin tưởng của hộ ông Nguyễn Văn H, bà Trần Lệ T trong việc xin hoá giá đất để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng tiền mặt và 30 chỉ vàng 24K (tương đương với số tiền 18.800.000 đồng) thời điểm năm 1997.

Ngoài 02 lần phạm tội trên thì Huỳnh Văn L cũng đã nhận tiền hứa làm giúp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của 3 cá nhân và mượn tiền của một cá nhân khác, gồm:

Vào năm 1997, L nhận từ ông Đinh Văn Q1 (thường gọi là Thanh D2), sinh năm 1952, cư trú tại ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai số tiền 2.500.000 đồng để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lợi đã lấy tiền sử dụng hết và không chuyển hồ sơ cho cán bộ uỷ ban để làm thủ tục. Sau đó, ông Q1 đã khiếu nại và gia đình L đã tự khắc phục trả lại số tiền trên cho ông Q1 và ông Q1 cũng không còn có khiếu nại và yêu cầu gì nữa.

Cũng vào năm 1997, L nhận từ ông Lê Văn E, sinh năm 1952, cư trú tại ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai số tiền 3.000.000 đồng để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lợi đã lấy tiền sử dụng hết và không chuyển hồ sơ cho cán bộ uỷ ban để làm thủ tục. Sau đó, ông E đã khiếu nại và gia đình L đã tự khắc phục trả lại số tiền trên cho ông E và ông E cũng không có kiếu nại và yêu cầu gì nữa.

Cũng vào năm 1997, L nhận từ ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1950, cư trú tại ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai số tiền 1.400.000 đồng để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lợi đã lấy tiền sử dụng hết và không chuyển hồ sơ cho cán bộ uỷ ban để làm thủ tục. Sau đó, ông H1 đã khiếu nại và gia đình L đã tự khắc phục trả lại số tiền trên cho ông H1 và ông H1 cũng không có khiếu nại gì nữa.

Vào năm 1995, L có nhờ ông Phạm Quốc H2 (lúc ấy đang là cán bộ tư pháp của xã L) đứng tên vay ngân hàng giùm để L lấy tiền giải quyết việc cá nhân. Ông H2 đã vay ngân hàng được 8.000.000 đồng đưa cho L sử dụng nhưng sau đó L chưa trả lại được và bỏ trốn truy nã. Gia đình L đã tự khắc phục trả lại số tiền trên cho ông H2.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Huỳnh Văn L đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị Công an huyện X, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định truy nã. Đến ngày 06/02/2023 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh V lập biên bản bắt người đang bị truy nã đối với Huỳnh Văn L và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X tiếp nhận xử lý theo quy định.

  • * Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 16 chỉ vàng 24k, loại nhẫn tại thời điểm năm 1994 là: 6.720.000 đồng; 30 chỉ vàng 24k, loại nhẫn tại thời điểm năm 1997 là: 13.800.000 đồng.
  • * Vật chứng vụ án:
  • Ngày 18/6/2023, anh Huỳnh Đoàn Phúc L2 (là con trai ruột của Huỳnh Văn L) đã tự nguyện giao nộp số tiền, vàng mà Huỳnh Văn L đã chiếm đoạt là: số tiền 5.000.000 đồng và tổng cộng 46 chỉ vàng nhẫn loại 99.99 để khắc phục hậu quả cho Huỳnh Văn L.

  • * Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKSXL ngày 29/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn L về tội: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985.
  • * Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • - Về tội danh: tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Không.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; bản thân đã tuổi cao sức yếu; trong thời gian công tác có nhiều đóng góp cho địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • - Về mức hình phạt: do bị cáo L có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên đề nghị áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng mức án dưới khung với mức hình phạt từ 3 – 4 năm tù.
  • - Về xử lý tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:
    • + Tịch thu sung công số tiền 5.000.000 đồng và 30 chỉ vàng nhẫn loại 99.99 do ông H, bà T từ chối nhận lại.
    • + Trả lại 16 chỉ vàng nhẫn loại 99.99 cho các hộ dân trong tập thể Tập đoàn H (cũ), người đại diện cho các hộ dân là ông Nguyễn Thái D1 (Tập đoàn T cũ).

    Tất cả vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện X và Ngân hàng V1 chi nhánh Đ theo giấy nộp tiền ngày 21/6/2023 và biên bản giao nhận tài sản ngày 20/6/2023.

  • * Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.
  • * Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận, hiện đang mắc bệnh cao huyết áp, phải thường xuyên uống thuốc, là người cao tuổi nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Từ năm 1994 đến năm 1997, Huỳnh Văn L giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, L thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 16 chỉ vàng nhẫn 24k trị giá 6.720.000 đồng của các hộ dân thuộc “Tập đoàn 8”, xã L do ông Nguyễn Thái D1 là tập đoàn T đại diện. Đồng thời, Huỳnh Văn L cũng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn ký tên, đóng dấu mộc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L để chiếm đoạt 5.000.000 đồng tiền mặt và 30 (ba mươi) chỉ vàng 24K, loại nhẫn trị giá 13.800.000 đồng của hộ ông Nguyễn Văn H và bà Trần Lệ T để sử dụng cho mục đích cá nhân. Khi các hộ dân làm đơn khiếu nại, L thừa nhận hành vi nhưng không có tiền khắc phục nên L đã bỏ trốn và bị bắt theo Lệnh truy nã vào ngày 06/02/2023.

Hành vi của Huỳnh Văn L đã phạm vào tội: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố đối với Huỳnh Văn L là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Hành vi của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của các hộ dân trong Tập đoàn 8, gia đình ông H – bà T, mà còn làm cho quần chúng nhân dân mất đi niềm tin vào cán bộ nhà nước. Bị cáo giữ Chức vụ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L giai đoạn 1994 – 1997, bị cáo biết rõ quy định của nhà nước đối với vị trí công tác mà bị cáo được phân công, nắm rõ và am hiểu Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 cũng như Luật đất đai năm 1993 nhưng vì tư lợi, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà bị cáo đã lợi dụng chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã để yêu cầu ông Nguyễn Thái D1 đưa quỹ hoạt động của Tập đoàn về cho xã quản lý và sử dụng mộc dấu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L đóng vào Đơn xin hóa giá đất của hộ ông H, bà T nhằm tạo sự tin tưởng cho ông H, bà T để chiếm đoạt 5.000.000 đồng tiền mặt và 30 chỉ vàng 24K. Khi thực hiện xong hành vi phạm tội bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

[3] Về tình tiết tăng nặng: không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã vận động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại để khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải; có nhân thân tốt; trong thời gian công tác tại Ủy ban nhân dân xã L cũng có nhiều công sức đóng góp cho địa phương. Hiện tại bị cáo là người cao tuổi, bệnh tật, phải uống thuốc thường xuyên nên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở bị cáo đối với xã hội cũng không còn. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và nhiều tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo L được hưởng mức án dưới khung là phù hợp.

[5] Đối với hành vi liên quan đến việc chiếm đoạt tiền của ông Đinh Văn Q1, Lê Văn E, Nguyễn Văn H1 và Phạm Quốc H2 mà Huỳnh Văn L đã thực hiện tại thời điểm năm 1995 và năm 1997 có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhưng tại thời điểm năm 1997, các Cơ quan tiến hành tố tụng không tiến hành xác minh để khởi tố, điều tra xử lý. Đến nay, đã hết “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” nên không đưa ra hình thức xử lý đối với Huỳnh Văn L là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Số vàng mà bị cáo L chiếm đoạt là vàng 24K, vàng mà anh Huỳnh Đoàn Phúc L2 giao nộp là vàng 99,99. Tại phiên tòa, anh Huỳnh Đoàn Phúc L2 vắng mặt, tuy nhiên anh là con trai của bị cáo L, anh nộp số tiền và vàng này để khắc phục hậu quả cho cha. Anh L2 được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh. Bị cáo L xác định giá trị của 02 loại vàng tuy có chênh lệch nhau nhưng đồng ý bồi thường theo số lượng vàng đã chiếm đoạt, không yêu cầu tính toán lại giá trị chênh lệch. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào ý kiến này để xử lý vật chứng là có căn cứ.

  • + Đối với số vàng mà L chiếm đoạt của Tập đoàn 8 (cũ): Trả lại cho Tập đoàn H (cũ), xã L (Mười sáu) chỉ vàng 99,99 do ông Nguyễn Thái D1 làm đại diện nhận.
  • + Đối với số tiền và vàng mà L chiếm đoạt của ông H, bà T: do ông Nguyễn Văn H và bà Trần Lệ T cho rằng đã được Ủy ban nhân dân huyện X cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên từ chối nhận lại tài sản. Do đó tịch thu, sung công quỹ số tiền 5.000.000 đồng và 30 (ba mươi) chỉ vàng 99, 99.
  • Số tiền hiện Công an huyện X đang tạm gửi vào tài khoản của Công an huyện X tại Ngân hàng V1 chi nhánh Đ ngày 21/6/2023; số vàng thì Công an huyện X đang gửi tại Kho bạc nhà nước huyện X theo Biên bản giao nhận tài sản số 02/2023/BBBG-CAH ngày 20/6/2023. Công an huyện X có trách nhiệm bàn giao tiền và vàng (theo Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 18/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X với anh Huỳnh Đoàn Phúc L2, có sự chứng kiến của bị cáo Huỳnh Văn L) sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc để thi hành án về phần dân sự.

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; đảm bảo quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc về tội danh, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khung điều luật áp dụng, nhân thân của bị cáo, việc cho bị cáo hưởng mức án dưới khung và cách thức xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 điều 221 Bộ luật Hình sự năm 1985; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điều 38; khoản 1 điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.

* Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn L - 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023.

- Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Trả lại cho Tập đoàn H (cũ), xã L (Mười sáu) chỉ vàng 99,99 do ông Nguyễn Thái D1 (Tập đoàn T cũ) làm đại diện nhận.
  • + Tịch thu, sung công quỹ số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng và 30 (Ba mươi) chỉ vàng 99, 99 do ông Nguyễn Văn H và bà Trần Lệ T từ chối nhận.
  • Số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng hiện Công an huyện X đang tạm gửi vào tài khoản của Công an huyện X tại Ngân hàng V1 chi nhánh Đ ngày 21/6/2023; số vàng 46 (Bốn mươi sáu) chỉ vàng 99,99 Công an huyện X đang gửi tại Kho bạc nhà nước huyện X theo Biên bản giao nhận tài sản số 02/2023/BBBG-CAH ngày 20/6/2023.

    Công an huyện X có trách nhiệm bàn giao số tiền và vàng trên (theo Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 18/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X với anh Huỳnh Đoàn Phúc L2, có sự chứng kiến của bị cáo Huỳnh Văn L) sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện X để thi hành.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh,
  • - VKS ND huyện, tỉnh,
  • - Các đương sự,
  • - THA huyện,
  • - Lưu, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger