|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HSST
Ngày 17 tháng 6 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN quận B
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Việt Hòa
- 2. Bà Nguyễn Thị Thuần
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thùy Trang – Thư ký Tòa án
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên Tòa: Bà Dương Thị Cẩm Vân– Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Văn L, sinh năm 1995; HKTT: Bản Mở, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12 (không biết chữ); Họ và tên bố: Hà Văn C; Họ và tên mẹ: Đèo Thị N; Tiền án, tiền sự: không. Theo danh chỉ bản số: 158 do Công an quận B lập ngày 18 tháng 3 năm 2024.
Bị cáo bị tạm giữ ngày: 13/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Có mặt tại phiên Tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo là ông Bạch Ngọc K - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt tại phiên Tòa.
* Người bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1977.
HKTT: Khu D, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Hiện ở: Khu lán trại công nhân, ngoại giao đoàn, phường X, quận B, thành phố Hà Nội
( vắng mặt tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/03/2024, anh Trần Văn T (Sinh năm 1977; HKTT: Khu D, L, Phú Thọ) đi làm về có để 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, BKS: 19R1 – 5639 ở trước cửa phòng trọ khu lán trại công nhân Ngoại Giao Đoàn, X, B, TP Hà Nội, rồi anh T đi ngủ. Tại thời điểm cất xe anh T không khóa cổ xe, bãi xe không có người trông giữ. Đến khoảng 1 giờ 30 phút ngày 12/03/2024, Hà Văn L (Sinh năm 1995; HKTT: Bản Mở, K, T, Lai Châu) đang đi bộ lang thang qua khu lán trại thì thấy cửa khu lán trại không khóa nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi đi vào bên trong khu lán trại, Lả phát hiện có nhiều xe máy dựng sẵn ở sân, khi thấy chiếc xe máy Honda Wave RS, màu đỏ đen, BKS: 19R1 – 5639 để gần cửa không khóa cổ nên L đã dắt xe ra khỏi cổng. Khi ra khỏi cổng khoảng 5m thì L gặp anh Hồ Hữu H (Sinh năm 1999; HKTT: Thôn A, Q, Q, Nghệ An), anh H thấy L đang dắt xe thì đến bắt chuyện, khi anh H hỏi xe máy làm sao thì L ấp úng, không trả lời được. Khi thấy trên ổ khóa không có chìa khóa xe thì anh H liền hỏi L “Chìa khóa xe đâu?” thì L vứt xe bỏ chạy. Nghi ngờ người này đang trộm cắp tài sản nên anh H đã đuổi theo, hô hoán người dân xung quanh bắt giữ Lả và đưa lên trụ sở Công an phường X để làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Hà Văn L khai nhận hành vi của mình như trên và khai do không có việc làm và nơi ở cố định, L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bên cạnh đó, do lo sợ bản thân bị cơ quan Công an lập hồ sơ xử lý về hành vi trộm cắp tài sản của mình nên ban đầu Hà Văn L đã khai tên của mình là Lều Văn X – Sinh năm 1995, quê ở Thanh Hóa.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 144/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận:
- “01 xe máy Honda Wave, màu đỏ - đen, BKS: 19R1 – 5639, số khung: 12289Y032269, số máy: HC112E0641425 (đã qua sử dụng), đăng ký lần đầu 30/12/2008 có giá trị là 6.000.000 đồng”.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, BKS: 19R1 – 5639, số khung: 12289Y032269, số máy: HC112E0641425. Qua tra cứu xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của chiếc xe là anh Trần Văn T. Ngày 19/4/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận B ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh T. Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Bản cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Hà Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà:
- Bị cáo lúc đầu còn loanh quanh nhưng sau khi khi Hội đồng xét xử giải thích pháp luật bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
- Bị hại có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường về dân sư
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận B sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; đề nghị tuyên phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù;
- Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền;
* Về trách nhiệm Dân sự:
- Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét;
- Bị cáo được miễn án phí Hình sự sơ thẩm
- Bị cáo; người bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm:
- Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng đã nêu là đúng người đúng tội. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi bị công an bắt giữ thì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, ngoài ra bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo không được đi học, không biết chữ nên còn có hạn chế về mặt nhận thức. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được trở về với gia đình, xã hội và có cơ hội sửa đổi bản thân.
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí cho bị cáo.
- Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì và không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 13/3/2024 tại lán trại công nhân ở khu vực Ngoại Giao Đ, phường X, quận B, TP Hà Nội, Hà Văn L đang có hành vi lấy trộm 01 xe máy Honda Wave, màu đỏ - đen, BKS: 19R1 – 5639 trị giá 6.000.000 đồng của anh Trần Văn T thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Hà Văn L đã đủ cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- [3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại, để lén lút trộm cắp tài sản của họ, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bên cạnh đó bị cáo còn trẻ tuổi, không có việc làm và nơi ở cố định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến an toàn xã hội.
- [4]. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản do bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại, mặt khác bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng đặc quyền kinh tế khó khăn, bị cáo lại không được đi học nên hiểu biết về pháp luật còn bị hạn chế, vì vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [5]. Với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
- [6]. Theo quy định thì ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [7]. Về phần bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8]. Về án phí HSST : Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- [9]. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Hà Văn L 06 ( Sáu tháng) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/3/2024.
- Về phần bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự, nên không xem xét.
- Về án phí HSST: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án.
|
NƠI NHẬN:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 134/2024/HSST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 134/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
