|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11 – 9 – 2024
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Hồ Quốc Văn
Ông Phan Minh Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1968;
Địa chỉ cư trú: Ấp Q, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1980;
Địa chỉ cư trú: Ấp Q, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T;
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T: Ông Phạm Anh C1 – Phó Giám đốc;
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
2. Ngân hàng chính sách xã hội huyện T;
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C huyện T: Ông Sơn Tấn P – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T;
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
3. Ông Trần Tấn H;
Địa chỉ cư trú: Ấp Q, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (Tòa án không triệu tập)
4. Bà Nguyễn Thị L1 - Cửa hàng V;
Địa chỉ cư trú: Ấp Q, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn C trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà L tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau năm 1999 không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, nhiều lần ông tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn nhưng không được. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được và không thể chung sống với nhau được nữa nên ông C yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông với bà L.
Con chung: Ông C xác định vợ chồng có con chung tên Nguyễn Mai T sinh ngày 09/9/2000, hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tài sản chung: Ông C xác định phần đất diện tích khoảng 10.000 m² tại ấp Q, xã B, huyện T nhưng đã cố cho ông Trần Tấn H trú ấp Q, xã B, huyện T vào năm 2022 giá cầm cố 150.000.000 đồng là phần đất phụ ấm của cha ông cho ông và 01 nền nhà ngang 05 m dài từ lộ đến mé sông và căn nhà xây dựng năm 2021 trị giá khoảng 280.000 000 đồng, tổng trị giá nền và căn nhà khoảng 300.000.000 đồng. Khi ly hôn ông và bà L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Nợ chung: Ông C xác định vợ chồng có nợ chung gồm: Nợ Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T ngày 11/7/2023 do ông C đứng tên vay số tiền 55.000.000 đồng, nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện T số tiền 20.000.000 đồng do bà L đứng tên vay, nợ tiền vật liệu xây dựng nhà của Cửa hàng vật liệu xây dựng Phương Trình số tiền 35.750.000 đồng, yêu cầu mỗi người có nghĩa vụ trả ½, ngoài ra không còn nợ ai khác.
* Bị đơn bà Nguyễn Hồng L trình bày:
Về hôn nhân: Bà L thống nhất với lời trình bày của ông C. Bà L xác định không còn tình cảm với ông C nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông C.
Con chung: Bà L xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Mai T sinh ngày 09/9/2000, hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung: Bà L xác định vợ chồng có tài sản chung gồm: Phần đất diện tích khoảng 10.000 m² do cha chồng cho khoảng năm 2000, chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng và vợ chồng quản lý hơn 01 năm thì đổi phần đất với ông Nguyễn Văn H1 phần đất diện tích khoảng 10.000 m² tại ấp Q, xã B, huyện T khoảng 01 năm sau thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng do ông Nguyễn Tấn C đứng tên. Vợ chồng canh tác phần đất này được một năm thì cầm cố cho ông Trần Tấn H vào năm 2022 giá 150.000.000 đồng do ông C trực tiếp cầm cố, phần đất trị giá khoảng 500.000.000 đồng, một nền nhà ngang 05m dài từ lộ đến mé sông và căn nhà xây dựng năm 2021 trị giá khoảng 280 000 000 đồng, tổng trị giá nền và căn nhà khoảng 300.000.000 đồng. Đối với tài sản chung bà thống nhất theo yêu cầu của ông C để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Ngoài ra bà và ông C không có tài sản chung nào khác.
Nợ chung: Bà L xác định vợ chồng có nợ chung gồm: Nợ Ngân hàng N chi nhánh huyện T do ông C đứng tên vay số tiền 55.000.000 đồng, nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T để chăn nuôi số tiền 20.000.000 đồng do bà L đứng tên vay, nợ tiền vật liệu xây dựng nhà của Cửa hàng Phương T1 do bà Nguyễn Thị L1 làm chủ số tiền 35.750.000 đồng và bà đã trả 22.000.000 đồng, hiện còn nợ 13.750.000 đồng. Đối với nợ chung, bà L yêu cầu mỗi người có vụ thanh toán ½ các khoản nợ trên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đại diện Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T trình bày: Ngày 11/7/2023 ông Nguyễn Tấn C đã ký Hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202302723 với Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T và Phụ lục hợp đồng vay số tiền 55.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích sử dụng vốn vay là nuôi tôm, trồng lúa, nuôi cá, lãi suất 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả 5%/năm, biện pháp bảo đảm cho vay thế chấp tài sản là 01 quyền sử dụng đất diện tích 10.000 m² theo giấy chứng nhận số AH 296535, cấp ngày 05/02/2007 do ông Nguyễn Tấn C đứng tên. Nay ông C và bà L ly hôn, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C và bà L cùng có nghĩa vụ thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202302723 ngày 11/7/2023 tính đến ngày 28/8/2024 với tổng số tiền gốc và lãi là 62.033.973 đồng (gốc 55.000.000 đồng, lãi 7.033.973 đồng) và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202302723 ngày 11/7/2023 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T với ông C cho đến khi ông C, bà L thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T. Nếu không thanh toán nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Đại diện Ngân hàng chính sách xã hội huyện T trình bày: Ngày 16/10/2020 bà L đã ký Hợp đồng tín dụng số với Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T vay số tiền 20.000.000 đồng, với mục tiêu hỗ trợ nhu cầu sinh hoạt gia đình, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất quá hạn 130%/năm. Nay ông C, bà L ly hôn, Ngân hàng chính sách yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C và bà L cùng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ là 20.069.042 đồng (vốn 20.000.000 đồng, lãi 69.042 đồng) theo quy định của pháp luật (tính đến ngày 28/8/2024).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đối với Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt Ngân hàng; đối với bà Nguyễn Thị L1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng Phương T1, ông Trần Tấn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên Tòa án không triệu tập.
[2] Về hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn C và bà Nguyễn Hồng L chung sống với nhau vào năm 1999, ông, bà xác lập mối quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Tại phiên tòa ông C vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông C với bà L. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, không công nhận ông Nguyễn Tấn C và bà Nguyễn Hồng L là vợ chồng.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống ông C và bà L có 01 con chung tên Nguyễn Mai T sinh ngày 09/9/2000, hiện cháu T đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông C, bà L đều xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ người khác:
Đối với khoản nợ vay của Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T yêu cầu ông C và bà L có nghĩa vụ trả nợ khi ly hôn, tính đến ngày 28/8/2024, số dư nợ vay của ông C và bà L là 62.033.973 đồng (gốc 55.000.000 đồng, lãi 7.033.973 đồng) và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202302723 ngày 11/7/2023 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T với ông C và bà L cho đến khi ông C, bà L thanh toán dứt nợ. Tại phiên tòa ông C và bà L thừa nhận nợ và đồng ý thanh toán mỗi người ½ cho Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận trả nợ của ông C và bà L là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp ngày 11/7/2023 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 296535 cấp ngày 05/02/2007 do Nguyễn Tấn C đứng tên tiếp tục được duy trì nếu như ông C, bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết thì Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
Đối với khoản nợ vay của Ngân hàng chính sách xã hội huyện T yêu cầu ông C và bà L có nghĩa vụ trả nợ khi ly hôn, tính đến ngày 30/8/2024 là 20.069.042 đồng (gốc 20.000.000 đồng, lãi 69.042 đồng). Tại phiên tòa ông C và bà L thừa nhận nợ và
đồng ý thanh toán mỗi người ½ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận trả nợ của ông C và bà L là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với ông Trần Tấn H, bà Nguyễn Thị L1 – Cửa hàng vật liệu xây dựng Phương Trình không có yêu cầu khởi kiện theo quy định đối với khoản nợ ông C và bà L đặt ra khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác.
[6] Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn C phải chịu 300.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông C, bà L mỗi người phải chịu 2.052.575 đồng; Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; khoản 1 Điều 30; Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 317; 319; 323; 463; 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn C. Không công nhận ông Nguyễn Tấn C và bà Nguyễn Hồng L là vợ chồng.
3. Về nợ chung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T, Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Buộc:
3.1. Ông Nguyễn Tấn C, bà Nguyễn Hồng L mỗi người phải thanh toán cho Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T số tiền 31.016.986 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm mười sáu nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng)(gốc 27.500.000 đồng, lãi 3.516.986 đồng) và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202302723 ngày 11/7/2023 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T với ông C và bà L cho đến khi ông C, bà L thanh toán dứt nợ.
Đối với Hợp đồng thế chấp ngày 11/7/2023 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 296535 cấp ngày 05/02/2007 do Nguyễn Tấn C đứng tên tiếp tục được duy trì nếu như ông C, bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp
đồng tín dụng đã ký kết thì Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T có quyền yêu cầu phát mãi tài sản để ưu tiên thu hồi nợ cho Ngân hàng.
3.2. Ông Nguyễn Tấn C, bà Nguyễn Hồng L mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T số tiền 10.034.521 đồng (mười triệu không trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi mốt đồng)(trong đó gốc 10.000.000 đồng, lãi 34.521 đồng).
4. Về án phí:
4.1. Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0016103 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; ông C đã nộp đủ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.
4.2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông C, bà L mỗi người phải chịu 2.052.575 đồng (hai triệu không trăm năm mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng); ông C, bà L chưa nộp.
- Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T không phải chịu, hoàn trả lại cho Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T 1.514.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0016244 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Ông C, bà L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số 134/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 134/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng L xin ly hôn với Nguyến Tấn C
