|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HS-ST
Ngày 11 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Vân
Bà Hoàng Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Nguyễn Thế H (tên gọi khác: không), sinh năm: 1995
Nơi ĐKHKTT: Thôn Giáp Tây, xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Nơi ở: Tổ 16, phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 62-QĐ/UBKTTU ngày 14/5/2024 của Ủy ban kiểm tra Thị ủy H8, tỉnh Thừa Thiên Huế. Con ông: Nguyễn Thế B, sinh năm 1960; Con bà: Trương Thị H1, sinh năm 1958. Vợ: Ngô Thị Bích N, sinh năm: 1994; Con: Có 01 con sinh năm 2021. Bị cáo có 04 anh, em, bị cáo là thứ 3. Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Lương Văn H2 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1998
Nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang
Nơi tạm trú: Tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 9/12; Con ông: Lương Văn K, sinh năm 1974; Con bà: Phạm Thị M, sinh năm 1977. Vợ, con: chưa có. Bị cáo có 2 anh, em, bị cáo là thứ nhất. Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 đến nay. Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Doanh nghiệp tư nhân V
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Ngọc T – Sinh năm: 1985
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số E, đường Q, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phùng Thị H3, sinh năm: 1979 (vắng mặt)
- Ông Lương Duy B1, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà B, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
- Ông Lương Văn K – Sinh năm: 1974 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang
- Ông Thân Văn Q - Sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng:
- Anh Ngô Xuân B2, sinh năm: 2000. Địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Mai H4 – Sinh năm: 2004. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thế H, sinh năm 1995, trú tại thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nguyên là Trung úy chuyên nghiệp Tiểu đoàn 179, Trung đoàn 282, Sư đoàn C, Quân chủng Phòng không – Không quân có trụ sở đóng tại thành phố Đà Nẵng. Ngày 14/02/2024, H được phục viên nhưng chưa về nhà mà xin ở lại đơn vị để chờ nhận chế độ.
Ngày 27/02/2024, Nguyễn Thế H nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản để lấy tiền chi tiêu và trả nợ. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H đi xe khách từ thành phố Đà Nẵng ra bến xe N, thành phố Hà Nội. Ngày hôm sau, H đến H và đi nhờ xe mô tô của một người khách đến tỉnh Bắc Ninh. H thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ T3 của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Sáng ngày 29/02/2024, Nguyễn Thế H sử dụng điện thoại di động Iphone 8 Plus lắp sim số 0826.243.666 truy cập vào mạng xã hội và đăng bài trên nhóm facebook có tên “Vỡ nợ làm liều” với nội dung “Bắc Ninh có việc, ai đi làm cùng nhắn tin”, mục đích rủ thêm người cùng đi cướp giật tài sản. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Lương Văn H2, sinh năm 1998, trú tại thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang xem bài đăng trên facebook của Nguyễn Thế H nên nhắn tin M1 cho Nguyễn Thế H hỏi công việc và được Nguyễn Thế H nhắn tin rủ đi cướp giật điện thoại thì Lương Văn H2 đồng ý tham gia. Nguyễn Thế H đã gửi vị trí nhà nghỉ T3 và bảo Lương Văn H2 đến đón. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Thế H thanh toán, trả phòng nghỉ, sau đó đi bộ ra đường Tỉnh lộ 286 đợi Lương Văn H2 đến đón. Khoảng 15 phút sau, Lương Văn H2 điều khiển xe mô tô biển số 98H1 - 316.73 đi đến. Khi gặp nhau, Nguyễn Thế H bảo Lương Văn H2 điều khiển chở đi tìm cửa hàng bán điện thoại, có nhiệm vụ nổ máy đỗ xe ở ngoài chờ để Nguyễn Thế H vào trong cửa hàng, giả vờ hỏi mua điện thoại có giá trị cao để cướp giật, sau đó sẽ đem bán lấy tiền chia nhau thì Lương Văn H2 đồng ý. Nguyễn Thế H hỏi thì biết xe mô tô biển số 98H1 - 316.73 đăng ký chính chủ tên Lương Văn H2, Nguyễn Thế H đã mua 01 cuộn băng dính đen, rồi lấy 01 chiếc khẩu trang màu trắng bịt biển số xe, dùng băng dính dán lại để tránh bị phát hiện.
Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, cả hai chở nhau đến cửa hàng điện thoại của anh Lương Văn H5 ở số A, đường D, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Lương Văn H2 đỗ xe ở ngoài cửa chờ còn Nguyễn Thế H đi vào giả vờ hỏi mua chiếc điện thoại iPhone 12 Promax thì được anh H5 lấy điện thoại ra đưa cho xem. Do cửa hàng có đông người, Nguyễn Thế H không dám thực hiện việc lấy tài sản nên trả lại điện thoại cho anh H5 rồi đi ra cùng Lương Văn H2 tiếp tục đi tìm cửa hàng điện thoại khác để cướp giật. Do không tìm được cửa hàng điện thoại nào có sơ hở nên Nguyễn Thế H rủ đi cướp ở cửa hàng vàng thì Lương Văn H2 đồng ý.
Khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Thế H sử dụng điện thoại di động vào Google map tìm kiếm cửa hàng vàng, sau đó chỉ dẫn đường cho Lương Văn H2 đi đến thành phố B. Khi Lương Văn H2 điều khiển xe chở Nguyễn Thế H đi đến đường Q, phường T, thành phố B thì thấy một số của hàng vàng, quan sát thấy cửa hàng vàng bạc Toàn T2 ở số nhà E chỉ có một người phụ nữ bán hàng và hai người khách thì Nguyễn Thế H bảo dừng lại. Lương Văn H2 đỗ xe trước cửa số nhà E, đường Q cách của hàng vàng khoảng 10m nổ máy để chờ. Khoảng 18 giờ 42 phút cùng ngày, Nguyễn Thế H xuống xe, đeo khẩu trang, tháo mũ bảo hiểm và đi bộ vào trong cửa hàng V1 gặp chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991 là chủ cửa hàng. H giả vờ hỏi mua 01 sợi dây chuyền vàng 9999 thì được chị T1 đưa cho xem 01 sợi dây chuyền vàng loại 03 chỉ. H cầm xem rồi trả lại chị T1 sợi dây chuyền này. Tiếp đó, H bảo chị T1 cho xem sợi dây chuyền to hơn thì chị T1 lấy đưa cho xem 01 sợi dây chuyền vàng 9999 loại 24k, khối lượng 05 chỉ, gồm nhiều mắt xích đan với nhau, tại phần móc dây chuyền có khắc chữ “VN”. H cầm sợi dây chuyền giả vờ xem, sau đó lợi dụng lúc chị T1 sơ hở không chú ý, H cầm sợi dây chuyền vàng chạy ra bên ngoài và ngồi lên xe của Lương Văn H2 đang nổ máy chờ sẵn, cả hai đã phóng nhanh đi khỏi hiện trường. Chị T1 chạy đuổi theo và hô cướp nhưng không đuổi kịp.
Lương Văn H2 điều khiển xe chở Nguyễn Thế H bỏ chạy về phía cầu S rồi đi về hướng thành phố B. Trên đường đi, Nguyễn Thế H nói cho Lương Văn H2 biết vừa cướp được 01 sợi dây chuyền vàng 9999 loại 24k, khối lượng 05 chỉ và bảo đi đến thành phố B để bán. Hai người đi đến cửa hàng V2 của gia đình chị Phùng Thị H3, sinh năm 1979 ở số nhà B, đường L, phường T, thành phố B. Lương Văn H2 đỗ xe đứng ở bên ngoài chờ, còn Nguyễn Thế H đi vào trong cửa hàng gặp chị H3 và đặt vấn đề bán sợi dây chuyền vàng. Chị H3 kiểm tra chất lượng và đồng ý mua với giá 30.700.000 đồng. Chị H3 trả cho H bằng tiền mặt. Nguyễn Thế H cầm tiền rồi đi ra nói cho Lương Văn H2 biết đã bán sợi dây chuyền vàng được 30.000.000 đồng và bảo đưa đi đón xe khách để về Hà Nội. Lương Văn H2 chở Nguyễn Thế H đến bờ Đ, phường Đ, thành phố B thì dừng lại. Tại đây, Nguyễn Thế H chia cho Lương Văn H2 14.000.000 đồng và giữ lại 16.700.000 đồng. Sau đó, Lương Văn H2 đi xe máy về phòng trọ còn Nguyễn Thế H thuê xe taxi đi Hà Nội.
Sau khi xảy ra vụ việc, chị T1 đã làm đơn đến cơ quan công an thành phố B. Hồi 19 giờ 15 phút ngày 29/02/2024, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường tại cửa hàng V1 đã thu giữ 05 dấu vết đường vân; các dấu vết bám dính nghi mồ hôi trên mặt các tủ trưng bày. Cơ quan điều tra cũng thu giữ các file video thu tại camera của cửa hàng vàng bạc Toàn T2 và tại gia đình anh Nguyễn Văn M2 ghi lại diễn biến vụ việc.
Ngày 05/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B bắt giữ Lương Văn H2 và thu giữ những vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển số 98H - 316.73; 01 mũ bảo hiểm toàn phần có cằm, có kính chắn, màu đen xanh; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai, màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max màu Gold lắp sim số 0382.138.565; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh, lắp sim số 0327.211.447. Lương Văn H2 khai đã sử dụng số tiền được chia để mua 01 chiếc điện thoại iPhone 12 Pro Max tại cửa hàng điện thoại Q2 MOBILE.VN của anh Thân Văn Q, sinh năm 1983 ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V với giá 12.500.000 đồng, đưa cho ông Lương Văn K là bố đẻ 1.500.000 đồng để nhờ giúp đóng tiền chơi họ.
Ngày 21/3/2024, Nguyễn Thế H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội, đã nộp vật chứng, tài sản gồm: 01 điện thoại iPhone 8 Plus, lắp sim số 0826.243.666; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thế H; 01 chiếc áo khoác màu xanh rêu; 01 chiếc áo Hoodie màu ghi xám(trang phục Hoàng mặt khi cướp giật tài sản); Số tiền 18.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐ ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 sợi dây chuyền vàng 9999, khối lượng 05 chỉ, gồm nhiều mắt xích đan với nhau, tại phần móc dây chuyền có khắc chữ “VN” có trị giá tại thời điểm ngày 29/02/2024 là 32.500.000 đồng”.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video thu tại camera của cửa hàng vàng bạc Toàn T2 và tại gia đình anh Nguyễn Văn M2; trưng cầu giám định dấu vết đường vân; dấu vết nghi mồ hôi bám dính tại mặt bàn quầy đã thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.
- Kết luận giám định số 1158/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 30 file video lưu trữ trong 07 đĩa DVD-R gửi giám định.
2. Trích xuất được 26 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định”
- Kết luận giám định số 1762/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của V3 Bộ C1 kết luận: “Trên mẫu gửi giám định có tế bào người, do chất lượng dấu vết kém nên không xác định được kiểu gen (AND).”
- Kết luận giám định số 1059/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“1. Ba dấu vết đường vân thu giữ tại hiện trường (ký hiệu A1, A2, A3) trong đó có dấu vết ký hiệu A1 thể hiện rõ đặc điểm, đủ yếu tố giám định; dấu vết ký hiệu A2, A3 không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.
2. Dấu vết đường vân thu giữ tại hiện trường (ký hiệu A1) so với dấu in chỉ bản mang tên Nguyễn Thế H không phải của cùng một người.”
Cơ quan cảnh sát điều tra đã cho các bị cáo nhận dạng, thực nghiệm điều tra, xác định địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, địa điểm bán dây chuyền, chia tiền, xem xét, quan sát các video thu tại của hàng vàng Toàn Thắng và khu vực trước của hàng. Các bị cáo đều nhận dạng được nhau và thực hiện đúng các hành vi đã thực hiện như khai báo.
Bản cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế H, bị cáo Lương Văn H2 cùng về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, các chứng cứ và xác định đủ căn cứ chứng minh các bị cáo Nguyễn Thế H, Lương Văn H2 đã có hành vi “Cướp giật tài sản” và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Xác định các bị cáo đồng phạm với nhau thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thế H là người khởi xướng, tích cực thực hiện hành vi nên có vai trò thứ nhất; bị cáo Lương Văn H2 được rủ rê đã đồng ý, sử dụng phương tiện chở bị cáo Nguyễn Thế H đi tìm địa điểm có tài sản để cướp giật, tích cực thực hiện hành vi giúp sức, nên có vai trò thứ hai trong vụ án. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cho cả hai bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38; điều 17; điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Thế H
Xử phạt Nguyễn Thế H từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/3/2024.
- Căn cứ khoản 1 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38; điều 17; điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Lương Văn H2.
Xử phạt Lương Văn H2 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn áp dụng cho cả hai bị cáo.
+ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
+ Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda AirBlade BKS 98H – 316.73 đăng ký tên Lương Văn H2; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 10C màu xanh thu giữ của Lương Văn H2; 01 điện thoại iPhone 8 Plus màu hồng của Nguyễn Văn H6 là các tài sản các bị cáo sử dụng làm phương tiện, công cụ phạm tội, có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 mũ bảo hiểm toàn phần có cằm màu đen xanh; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai, màu đen; 01 sim thuê bao số 0327211447; 01 sim điện thoại số 0382.138.xxx thu giữ của Lương Văn H2; 01 chiếc áo khoác màu xanh xám; 01 chiếc áo loại áo Hoodie, màu ghi xám; 01 sim thuê bao số 0826243666 thu giữ của Nguyễn Thế H được các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thế H đề nghị trả lại cho bị cáo.
+ Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thế H và Lương Văn H2 tại phiên tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, xin lỗi bị hại, rất ăn năn, hối cải, đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại, không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ông Lương Văn K trình bày được con trai Lương Văn H2 đưa số tiền 1.500.000 đồng để nhờ đóng tiền chơi họ, ông không biết số tiền trên do H2 phạm tội mà có, không biết H2 đã thực hiện hành vi phạm tội. Ông K không tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai phạm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử thấy, trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng trên đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đầy đủ. Quá trình xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng những người tham gia tố tụng trên vắng mặt, kiểm sát viên, bị cáo đề nghị tiếp tục phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án.
[3]. Về hành vi của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thế H và bị cáo Lương Văn H2 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của nhau. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác đã được cơ quan điều tra lấy lời khai và còn được chứng minh bởi các chứng cứ khác như hình ảnh camera an ninh cơ quan điều tra đã thu giữ được tại những nơi xảy ra hành vi phạm tội, kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, các vật chứng, tài sản thu giữ được. Có cơ sở kết luận: Thông qua mạng xã hội Face book, ngày 29/12/2023, Nguyễn Thế H đã rủ Lương Văn H2 đi cướp giật tài sản và Lương Văn H2 đã đồng ý. Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, Lương Văn H2 điều khiển xe mô tô biển số 98H1 - 316.73 đi đến xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đón Nguyễn Thế H, sau đó cả hai chở nhau đi tìm cửa hàng để cướp giật tài sản. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, cả hai đi đến cửa hàng V1 ở số nhà E, đường Q, phường T, thành phố B, Lương Văn H2 dừng xe, nổ máy sẵn, đứng ngoài chờ, Nguyễn Thế H đi vào trong cửa hàng và giả vờ mua vàng. Chị Nguyễn Thị T1 là chủ cửa hàng đã đưa cho Nguyễn Thế H xem 01 sợi dây chuyền vàng 05 chỉ 9999 loại 24k, trị giá 32.500.000 đồng. Lợi dụng lúc chị T1 không để ý, H cầm sợi dây chuyền vàng bỏ chạy ra vị trí Lương Văn H2 đang đợi rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát, sau đó, đã bán sợi dây chuyền vàng cho chị Phùng Thị H3 là chủ cửa hàng V2 ở phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh được 30.700.000 đồng rồi chia nhau.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, giả vờ mua tài sản, được chủ tài sản đưa cho xem tài sản, sau đó, lợi dụng sơ hở của bị hại, đã cầm tài sản bỏ chạy để chiếm đoạt tài sản. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự xã hội, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế H và bị cáo Lương Văn H2 về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về vai trò: Cả hai bị cáo đã rủ nhau đi cướp giật tài sản, tuy nhiên không bàn bạc, phân công cụ thể về việc thực hiện hành vi, HĐXX đánh giá, đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn. Trong vụ án, bị cáo Nguyễn Thế H là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Lương Văn H2 và là người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bán tài sản do đó có vai trò đứng đầu. Bị cáo Lương Văn H2 đã dùng xe mô tô của mình, chở bị cáo Nguyễn Thế H đi cướp giật và sau đó chở đi tiêu thụ tài sản, bị cáo có vai trò thứ hai trong vụ án.
Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có nhân thân tốt, đều không có tiền án, tiền sự, không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường, khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Nguyễn Thế H đầu thú, trong quá trình tham gia công tác trong quân đội được tặng thưởng chiến sỹ thi đua cơ sở, giấy khen; bị cáo Lương Văn H2 có tham gia nghĩa vụ quân sự, có ông, bà nội được Nhà nước tặng thưởng H7, huy chương kháng chiến nên các bị cáo còn được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thái độ ăn năn, hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho mỗi bị cáo. Mức hình phạt áp dụng đối với mỗi bị cáo kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận và áp dụng bằng mức khởi điểm kiểm sát viên đề xuất.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhằm vụ lợi, tuy nhiên do các bị cáo không có tài sản, thu nhập, khó khăn về kinh tế, nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho mỗi bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án các bị cáo đã nộp lại tiền, tài sản và cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện bị hại là bà Nguyễn Thị T1 số tiền 32.500.000 đồng (trị giá sợi dây chuyền vàng 5 chỉ). Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với anh Thân Văn Q là người bán điện thoại cho Lương Văn H2, anh Q đã giao nộp cơ quan điều tra số tiền 12.500.000 đồng và được cơ quan điều tra trả lại chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu Gold, anh Q không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7]. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển số 98H - 316.73, số máy JF94E0186895, số khung RLHJF6333LZ545296, đăng ký ngày 27/11/2020, chủ xe tên Lương Văn H2, là phương tiện các bị cáo sử dụng để đi thực hiện hành vi phạm tội; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh, lắp sim số 0327211447; 01 sim điện thoại số 0382.138.xxx thu giữ của Lương Văn H2; 01 chiếc điện thoại iPhone 8 Plus, màu hồng, lắp sim số 0826243666 của Nguyễn Văn H6 là phương tiện các bị cáo sử dụng để nhắn tin, liên lạc đi thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử tịch thu sung Ngân sách nhà nước đối với xe mô tô, điện thoại nêu trên. Riêng các sim điện thoại không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm toàn phần có cằm màu đen xanh; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai, màu đen thu giữ của Lương Văn H2; 01 chiếc áo khoác màu xanh xám; 01 chiếc áo loại áo Hoodie, màu ghi xám thu giữ của Nguyễn Thế H được các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thế H trả lại cho bị cáo.
[8]. Đối với người liên quan:
Chị Phùng Thị H3 là người đã mua lại sợi dây chuyền vàng mà các bị cáo phạm tội mà có, kết quả điều tra xác định chị H3 không biết nguồn gốc tài sản trên, anh Thân Văn Q đã bán điện thoại cho Lương Văn H2, ông Lương Văn K được H2 đưa tiền cho đóng họ giúp H2, hông biết số tiền Lương Văn Hoàng đưa cho là do H2 có được từ hành vi phạm tội, do đó cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người trên, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23, điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 21, điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án;
+ Căn cứ khoản 1 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 17; điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/3/2024.
+ Căn cứ khoản 1 điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 17; điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lương Văn H2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/3/2024.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[3]. Về vật chứng:
+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS 98H - 316.73, số máy JF94E0186895, số khung RLHJF6333LZ545296, đăng ký ngày 27/11/2020, chủ xe tên Lương Văn H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 10C, màu xanh của Lương Văn H2; 01 điện thoại iPhone 8 Plus, màu hồng của Nguyễn Văn H6.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01mũ bảo hiểm toàn phần có cằm màu đen xanh, 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai, màu đen, 01 sim điện thoại số 0327.211.xxx, 01 sim điện thoại số 0382.138.xxx của Lương Văn H2; 01 chiếc áo khoác màu xanh xám, 01 chiếc áo loại áo Hoodie màu ghi xám, 01 sim điện thoại số 0826.243.xxx của Nguyễn Thế H.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thế H: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thế H.
[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế H, Lương Văn H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế H và Lương Văn H đã rủ nhau đi cướp tài tài. Các bị cáo đã vào tiệm vàng tại thành phố BG thực hiện hành vi cướp giật sợi dây chuyền vàng. Đủ căn cứ kết tội các bị cáo
