|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HS-ST
Ngày 11-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Bà Lê Thị Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Võ Minh H, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2005 tại tỉnh An Giang; Địa chỉ: tổ D, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Võ Thị T; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 08/11/2023 cho đến nay (có mặt).
- Nguyễn Minh C, sinh ngày 10 ngày 3 năm 2005 tại tỉnh Bình Định; Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh H1 và bà Nguyễn Thị H2; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 08/11/2023 cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn H3; Địa chỉ: F, ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Tăng Tố N, sinh năm 1996; Địa chỉ: 2 T, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Minh H và Nguyễn Minh C làm việc bốc xếp hàng hóa cho nhà xe H4 (công ty TNHH H3) chi nhánh Q. Đến ngày 18/8/2023, thì cả hai được điều động về làm việc tại chi nhánh thuộc bến xe A, cả hai được bố trí chỗ ở lại tại trạm xe. Tại đây, H và C biết bà Nguyễn Tăng Tố N1 là nhân viên nhận hàng kiêm thu tiền của trạm xe. Hàng ngày, bà N1 sẽ thu tiền và cất trong ngăn kéo của bàn làm việc, chìa khóa để dưới đáy bình sành đặt phía sau bàn làm việc. Do thiếu tiền để trả nợ nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền và rủ C cùng thực hiện thì C đồng ý.
Khoảng 23 giờ ngày 19/8/2023, khi thấy bà N1 để tiền trong ngăn kéo và cất chìa khóa ở vị trí trên thì H và C nói với bà N1 để H và C chơi game và canh trạm xe cho bà N1 đi ngủ. Sau khi bà N1 đi lên gác ngủ thì H và C ngồi tại bàn làm việc này. Đến khoảng 03 giờ ngày 20/8/2023, H quan sát thấy camera của phòng có sáng đèn thì H đi lại lấy 01 chiếc mền và chìa khóa ngăn kéo quay lại ghế ngồi cạnh ngăn kéo đề tiền. H trùm chiếc mền qua người để che không cho camera ghi hình hành động của H. C ngồi cạnh cảnh giới và H mở ngăn kéo lấy toàn bộ số tiền trong ngăn kéo tổng cộng 86.608.000 đồng bỏ vào túi áo khoác sau đó khóa ngăn kéo lại và bỏ chìa khóa về vị trí ban đầu. Đến khoảng 04 giờ sáng thì H và C bỏ ra ngoài trạm xe và bắt taxi bỏ trốn. Số tiền trộm cắp được H dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết, C không được chia.
Sáng ngày 20/8/2023, bà N1 ngủ dậy thì phát hiện số tiền đã bị mất trộm và không liên lạc được với H và C. Ngày 05/9/2023, công ty TNHH H3 ủy quyền cho bà N1 đến Công an xã B trình báo.
Cơ quan CSĐT ra quyết định truy tìm đối với H và C, đến ngày 07/11/2023 thì phát hiện và mời H và C về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan CSĐT, H chỉ thừa nhận lấy trộm số tiền là 55.606.000 đồng và đã tiêu xài hết, không chia cho C. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ xác định số tiền H và C trộm cắp là 86.608.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 tấm mền màu xám kích thước 2m x 1,54m
- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận diễn biến vụ việc
Về dân sự: Đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH H5 bà N1 yêu cầu 02 bị can bồi thường 86.608.000 đồng. Gia đình C đã bồi thường 43.304.000 đồng, phía bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với C và không yêu cầu C bồi thường gì thêm.
Đối với H chưa bồi thường, phía bị hại yêu cầu H phải bồi thường 43.304.000 đồng.
Bản cáo trạng số 137/CT-VKSHHM ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị can Võ Minh H và Nguyễn Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H và C đã thừa nhận trộm số tiền 86.608.000 đồng. Bị cáo H tự nguyện bồi thường cho công ty TNHH H3 số tiền 43.304.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo H và C đã nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản”; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo các bị cáo H và C có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Võ Minh H, Nguyễn Minh C về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 2 Điều 173; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H tư 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù; áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 1 Điều 173 xử phạt bị cáo C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo H về việc bồi thường dân sự cho bị hại là công ty TNHH H3 với số tiền là 43.304.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm mền màu xám kích thước 2mx1,54m. Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận diễn biến vụ việc
Các bị cáo H và C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Võ Minh H, Nguyễn Minh C khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo H, C phù hợp bản kết luận điều tra của Công an huyện H, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: các bị cáo H và C có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 86.608.000 đồng tiền mặt của công ty TNHH H3. Bị cáo H là người trực tiếp thực hiện hành vi và bị cáo C là người cảnh giới. Trong vụ án này, các bị cáo rủ nhau cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc phân công cụ thể từng bị cáo, không có sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không mang tính tổ chức. Do đó, các bị cáo H, C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo H, C biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo H, C đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được Nhà nước bảo vệ; ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục các bị cáo H, C và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: không có
Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Bị cáo C đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo C phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về dân sự: Đại diện theo ủy quyền của bị hại công ty TNHH H5 bà N1 yêu cầu 02 bị cáo H và C bồi thường 86.608.000 đồng. Gia đình bị cáo C đã bồi thường 43.304.000 đồng, phía bị hại không yêu cầu bị cáo C bồi thường gì thêm.
Đối với bị cáo H chưa bồi thường, phía bị hại yêu cầu bị cáo H phải bồi thường 43.304.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo H đồng ý bồi thường cho bị hại công ty TNHH H3 số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 tấm mền màu xám kích thước 2m x 1,54m; do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận diễn biến vụ việc
[6] Về án phí: Các bị cáo H, C phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Minh H 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2023.
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Võ Minh H, Nguyễn Minh C (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Võ Minh H bồi thường cho bị hại công ty TNHH H3 số tiền 43.304.000 (bốn mươi ba triệu ba trăm lẻ bốn ngàn) đồng. Thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo Võ Minh H chưa thi hành các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm mền màu xám kích thước 2m x 1,54m; Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2024.
- Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận diễn biến vụ việc
- Căn cứ kho ản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Võ Minh H chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.165.200 (hai triệu một trăm sáu mươi lăm ngàn hai trăm) đồng. Thi hành tại chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Các bị cáo Võ Minh H, Nguyễn Minh C mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - Sở tư pháp TP. HCM; - VKSND H.HM; - Chi Cục THADS H.HM; - Công an H.HM; - UBND xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; - UBND xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Lưu: VP, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: trộm cắp tài sản
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
