|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/DS-ST Ngày: 11/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Triệu Thúy Hà. |
| - Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Bà Trần Thị Đông; |
| 2. Bà Ngô Thị Yêm. |
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Thuý Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1);
Trụ sở tại: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, sinh năm 1968, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Hoàng L, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý; ông Phạm Tuấn A, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý; ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý; theo văn bản uỷ quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/04/2023.
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Đỗ Mạnh K, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ theo văn bản uỷ quyền tham gia tố tụng số 157/2023/UQ-LCC-KHCNMB1.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh L1, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Đ, Hà Nội.
Có mặt: Ông K;
Vắng mặt: Chị L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo lại Toà án, người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị Minh L1 vay V2 tổng số tiền là 788.000.000 đồng (Bảy trăm tám mươi tám triệu đồng), cụ thể như sau:
- Hợp đồng vay số LN1710160277715 ngày 31/10/2017.
- Số tiền vay: 599.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi chín triệu đồng)
- Thời hạn vay: 83 tháng
- Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5
- Lãi suất trong hạn: lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 11.05%/năm (Lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiếp theo là 01/01/2019. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng Lãi suất tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 24 tháng trả lãi sau bậc thang cao nhất của Bên ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 6%/năm.
- Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016
- Số tiền vay: 120.000.000 đồng
- Thời hạn vay: 36 tháng
- Mục đích vốn vay: vay tiêu dùng cá nhân
- Lãi suất: Theo điều chỉnh của V1 từng thời kỳ
- Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062
- Hạn mức: 69.000.000 đồng
- Mục đích vốn vay: Vay tiêu dùng cá nhân
- Lãi suất: Theo điều chỉnh của V1 từng thời kỳ
- Tài sản thế chấp
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số khung: RN2KE5726HC073141, số máy: PE20908587, BKS: 30E-788.77, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 31/10/2017 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của chị Nguyễn Thị Minh L1, chi tiết tại hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1710160277715 ký ngày 31/10/2017 giữa Ngân hàng TMCP V với chị Nguyễn Thị Minh L1. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng trên, chị Nguyễn Thị minh L2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thoả thuận trong các hợp đồng đã ký kết.
Tạm tính đến ngày 11/6/2024, chị Nguyễn Thị Minh L1 còn nợ V1 số tiền như sau:
- Hợp đồng tín dụng số LN1710160277715 (LD1730501446) ngày 31/10/2017. Quá hạn từ ngày 01/11/2019:
- Gốc phải trả: 483.279.794 đồng
- Lãi phải trả: 528.289.265 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 6.946.933 đồng; lãi quá hạn: 521.342.332 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 133.595.624 đồng
- Tổng: 1.145.164.683 đồng
- Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016. Quá hạn từ: 01/11/2019;
- Gốc phải trả: 14.574.093 đồng
- Lãi phải trả: 50.744.918 đồng; Trong đó: Lãi trong hạn: 19.536.624 đồng; Lãi quá hạn: 31.208.294 đồng.
- Tổng: 65.319.011 đồng
- Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062; Quá hạn từ 07/11/2019;
- Gốc phải trả: 68.181.185 đồng
- Lãi phải trả là tiền lãi quá hạn tính từ 07/11/2019 đến ngày xét xử: 314.682.199 đồng
- Tổng: 382.863.384 đồng
Tổng nợ của cả 3 Hợp đồng tín dụng là: 1.593.347.078 đồng
Nay nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết các nội dung sau:
- - Buộc chị Nguyễn Thị Minh L1 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan đến các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tạm tính đến ngày 11/6/2024, chị Nguyễn Thị Minh L1 còn nợ V1 số tiền như sau:
- + Gốc phải trả: 566.035.072 đồng
- + Lãi phải trả: 893.716.382 đồng
- + Phạt chậm trả: 133.595.624 đồng
- + Tổng: 1.593.347.078 đồng
- - Yêu cầu Toà án tiếp tục cho tĩnh lãi theo đúng thoả thuận trong hợp đồng cho vay đến ngày thực tế chị Nguyễn Thị Minh L1 trả hết nợ cho V1.
- - Yêu cầu Toà án tuyên trong bản án: V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số khung: RN2KE5726HC073141, số máy: PE20908587, BKS: 30E-788.77, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 31/10/2017 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của chị Nguyễn Thị Minh L1.
*Tại bản tự khai đề ngày 20/5/2024, chị Nguyễn Thị Minh L1 trình bày
Khoảng năm 2017, chị có vay của Ngân hàng VP Bank một số tiền để mua chiếc xe CX5 nhằm mục đích phục vụ cho công việc theo hình thức trả góp. Chị L1 là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định nhưng vì ngân hàng tạo điều kiện nên đã giúp đỡ cho chị L1 vay số tiền 599.000.000 đồng bằng hình thức mua xe trả góp.
Giá trị xe: 799.000.000 đồng
Khoản vay: 599.000.000 đồng
Chị L1 có đóng lãi và gốc đầy đủ cho Ngân hàng khoảng 15 tháng: 150.000.000 đồng (chị L1 không nhớ chính xác).
Đến khoảng thời gian giữa năm 2018, chị L1 làm ăn thua lỗ và bị vỡ nợ khoảng 10 tỷ đồng. Do lúc đó bị ép và bắt nợ, đe doạ của rất nhiều chủ nợ và các đối tượng xã hội đen ở tại khu vực sinh sống của mình nên chị L1 phải bỏ nhà vào trong miền N sinh sống và làm ăn lại.
Chiếc xe CX5 chị L1 có vay trả góp Ngân hàng V1 thời điểm đó đã bị một số chủ nợ siết nợ nhưng vì tài sản của ngân hàng nên chị L1 nghĩ họ sẽ không thể lấy được nên trước đó chị L1 đã để xe ở khu vực bãi đỗ xe Cầu G và vì sự truy đuổi của chủ nợ khi đó nên chị L1 không lấy vé xe và không nhớ chính xác mình để ở khu vực nào.
Chị L1 có lên Công an quận C để hỏi về việc này (cách đây khoảng tháng 9/2020 chị L1 về Hà Nội) nhưng công an Cầu Giấy họ yêu cầu chị L1 phải cung cấp thông tin chính xác thì mới được giải quyết. Sau đó dịch Covid diễn ra, các khu vực bị phong toả nên chị L1 không thể tìm được thông tin chính xác khu vực đó.
Đến khoảng tháng 5/2021, chị L1 sinh bé trai và sau 6 tháng sau, chị L1 có lên ngân hàng V1 tức khoảng tháng 12/2021 đến tháng 1/2022 để trình bày sự việc và cũng ngỏ ý nếu trường hợp tìm thấy xe CX5 của chị L1 thì ngân hàng có quyền thu hồi và xử lý nợ, còn trường hợp không tìm thấy xe thì chị L1 xin chịu trách nhiệm về rủi ro không mong muốn này, chị L1 đồng ý trả nợ cho ngân hàng tất cả các khoản nợ của chị L1 đã vay tại ngân hàng.
Hiện tại chị L1 là mẹ đơn thân, đang phải nuôi một bé trai 3 tuổi và công việc không ổn định. Nay chị L1 đề nghị phía Ngân hàng hỗ trợ có thể giúp chị L1 khoanh khoản nợ gốc và lên giúp chị L1 kế hoạch trả nợ khoản vay của ngân hàng.
Với hoàn cảnh của chị L1, chị L1 hiện tại có thể trả được số tiền gốc của ngân hàng khoảng 3-5 triệu đồng/tháng. Đề nghị không tính lãi giúp chị L1.
* Tại phiên tòa xét xử,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị Nguyễn Thị Minh L1 trả cho V1 đầy đủ số nợ gốc và nợ lãi phải trả. Đại diện nguyên đơn trình bày bảng kê tình hình vay nợ đến ngày xét xử tạm tính đến ngày xét xử của chị Nguyễn Thị Minh L1 (Ngày 11/6/2024) tại Ngân hàng TMCP V (V1) là:
Tạm tính đến ngày 11/6/2024, chị Nguyễn Thị Minh L1 còn nợ V1 số tiền như sau:
- Hợp đồng tín dụng số LN1710160277715 (LD1730501446) ngày 31/10/2017. Quá hạn từ ngày 01/11/2019:
- Gốc phải trả: 483.279.794 đồng
- Lãi phải trả: 528.289.265 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 6.946.933 đồng; lãi quá hạn: 521.342.332 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 133.595.624 đồng
- Tổng: 1.145.164.683 đồng
- Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016. Quá hạn từ: 01/11/2019;
- Gốc phải trả: 14.574.093 đồng
- Lãi phải trả: 50.744.918 đồng; Trong đó: Lãi trong hạn: 19.536.624 đồng; Lãi quá hạn: 31.208.294 đồng.
- Tổng: 65.319.011 đồng
- Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062; Quá hạn từ 07/11/2019;
- Gốc phải trả: 68.181.185 đồng
- Lãi phải trả là tiền lãi quá hạn tính từ 07/11/2019 đến ngày xét xử: 314.682.199 đồng
- Tổng: 382.863.384 đồng
Tổng nợ của cả 3 Hợp đồng tín dụng là: 1.593.347.078 đồng
Nay nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết các nội dung sau:
- - Buộc chị Nguyễn Thị Minh L1 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan đến các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tạm tính đến ngày 11/6/2024, chị Nguyễn Thị Minh L1 còn nợ V1 số tiền như sau:
- + Gốc phải trả: 566.035.072 đồng
- + Lãi phải trả: 893.716.382 đồng
- + Phạt chậm trả: 133.595.624 đồng
- + Tổng: 1.593.347.078 đồng
Chị Nguyễn Thị Minh L1 vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.
- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1).
- Về án phí: Vụ án áp dụng án phí có giá ngạch. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Minh L1 có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã X, huyện Đ, Hà Nội. Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án huyện Đ thụ lý vụ án đúng thẩm quyền.
- - Về tống đạt: Đối với nguyên đơn, bị đơn đều đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng hợp lệ.
- - Về xét xử vắng mặt các đương sự: Chị Nguyễn Thị Minh L1 vắng mặt tại phiên toà lần 2 và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt các đương sự đó là đúng pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
[3] Về nội dung:
[3.1] Hợp đồng tín dụng:
Các bên đường sự đều thừa nhận việc ký kết các Hợp đồng vay số LN1710160277715 ngày 31/10/2017, Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016, Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062. Các hợp đồng hợp pháp về chủ thể, nội dung và hình thức. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng, giải ngân cho bị đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngân hàng. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, được chấp nhận. - Buộc chị Nguyễn Thị Minh L1 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan đến các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tính đến ngày 11/6/2024 như sau:
- Hợp đồng tín dụng số LN1710160277715 (LD1730501446) ngày 31/10/2017. Quá hạn từ ngày 01/11/2019:
- Gốc phải trả: 483.279.794 đồng
- Lãi phải trả: 528.289.265 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 6.946.933 đồng; lãi quá hạn: 521.342.332 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 133.595.624 đồng
- Tổng: 1.145.164.683 đồng
- Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016. Quá hạn từ: 01/11/2019;
- Gốc phải trả: 14.574.093 đồng
- Lãi phải trả: 50.744.918 đồng; Trong đó: Lãi trong hạn: 19.536.624 đồng; Lãi quá hạn: 31.208.294 đồng.
- Tổng: 65.319.011 đồng
- Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062; Quá hạn từ 07/11/2019;
- Gốc phải trả: 68.181.185 đồng
- Lãi phải trả là tiền lãi quá hạn tính từ 07/11/2019 đến ngày xét xử: 314.682.199 đồng
- Tổng: 382.863.384 đồng
Tổng nợ của cả 3 Hợp đồng tín dụng là: 1.593.347.078 đồng
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngay 11/6/2024, bị đơn tiếp tục chịu lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên cho đến khi trả hết nợ cho nguyên đơn.
[3.2] Về tài sản đảm bảo và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1710160277715 ký ngày 31/10/2017 giữa Ngân hàng TMCP V với chị Nguyễn Thị Minh L1, tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số khung: RN2KE5726HC073141, số máy: PE20908587, BKS: 30E-788.77, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 31/10/2017 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của chị Nguyễn Thị Minh L1.
Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
Do vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, chấp chận yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ nợ gốc và lãi. Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm tương ứng với phạm vi bảo đảm của từng tài sản cụ thể theo hợp đồng thế chấp.
Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ, bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung ngân sách Nhà nước.
Chị Nguyễn Thị Minh L1 có nghĩa vụ thanh toán trả Nguyên đơn các chi phí tố tụng liên quan đến giải quyết vụ án.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 298, 299, 318, 320, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 26, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, 266, 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Luật Thi hành án dân sự;
- - Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với chị Nguyễn Thị Minh L1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Chị Nguyễn Thị Mịnh L3 nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng TMCP V các khoản tiền theo Hợp đồng vay số LN1710160277715 ngày 31/10/2017, Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016, Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062 tạm tính đến ngày xét xử (ngày 11/6/2024) là:
- 2.1. Hợp đồng tín dụng số LN1710160277715 (LD1730501446) ngày 31/10/2017. Quá hạn từ ngày 01/11/2019:
- Gốc phải trả: 483.279.794 đồng
- Lãi phải trả: 528.289.265 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 6.946.933 đồng; lãi quá hạn: 521.342.332 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 133.595.624 đồng
- Tổng: 1.145.164.683 đồng
- 2.2 Hợp đồng tín dụng số LD1634800605 (10796947) ký ngày 13/12/2016. Quá hạn từ: 01/11/2019;
- Gốc phải trả: 14.574.093 đồng
- Lãi phải trả: 50.744.918 đồng; Trong đó: Lãi trong hạn: 19.536.624 đồng; Lãi quá hạn: 31.208.294 đồng.
- Tổng: 65.319.011 đồng
- 2. 3. Hợp đồng thẻ tín dụng số 328-P-967062; Quá hạn từ 07/11/2019;
- Gốc phải trả: 68.181.185 đồng
- Lãi phải trả là tiền lãi quá hạn tính từ 07/11/2019 đến ngày xét xử: 314.682.199 đồng
- Tổng: 382.863.384 đồng
Tổng nợ của cả 3 Hợp đồng tín dụng là: 1.593.347.078 đồng
(Có Bảng kê tính lãi của Ngân hàng lưu trong Hồ sơ vụ án).
Chị Nguyễn Thị Minh L1 có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP V kể từ thời điểm xét xử đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ.
- 2.1. Hợp đồng tín dụng số LN1710160277715 (LD1730501446) ngày 31/10/2017. Quá hạn từ ngày 01/11/2019:
- Trường hợp chị Nguyễn Thị Minh L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số khung: RN2KE5726HC073141, số máy: PE20908587, BKS: 30E-788.77, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 31/10/2017 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của chị Nguyễn Thị Minh L1..
- Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì chị Nguyễn Thị Minh L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho nguyên đơn.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Minh L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 59.800.412 đồng.
Ngân hàng TMCP V được nhận lại 23.698.678 đồng (Bằng chữ: Hai mươi ba triệu sáu trăm chín mươi tám triệu sáu trăm bảy mươi tám đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0017248 ngày 11/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Triệu Thúy Hà |
Bản án số 134/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 134/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VP Bank - Chị Nguyễn Thị Minh L
