TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09-8-2024
V/v “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Tùng;
- Ông Phan Thanh Phương;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Bảo V – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 160/2024/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phước T, sinh năm: 1986; Xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đinh Hoàng T1, sinh năm: 1986; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Khu phố A, phường E, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Phước T trình bày:
Chị T và anh T1 qua tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận kết hôn số 70 Quyển 1/2014 ngày 24/12/2014. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Nay tình cảm không còn nên chị T yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung tên Đinh Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 21/02/2013 và Đinh Nguyễn Khánh T2, sinh ngày 23/4/2015 hiện đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh T1 mặc dù được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không nộp cho Tòa án Bản tự khai cũng như văn bản ghi ý kiến của mình. Đồng thời, Tòa án đã tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh T1 nhưng do anh T1 vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt anh T1 và không hòa giải vụ án được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng:
Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xét yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị T là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công.
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chị Nguyễn Phước T có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Đinh Hoàng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T1.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về hôn nhân: Chị T và anh T1 qua tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Quá trình chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được.
Phía anh T1 đã được triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn mâu thuẫn nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh T1 không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung tên Đinh Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 21/02/2013 và Đinh Nguyễn Khánh T2, sinh ngày 23/4/2015 hiện đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi. Xét về điều kiện chăm sóc cháu V1 và cháu Thư từ nhỏ đã được chị T chăm sóc. Cháu V1 và cháu T2 có nguyện vọng được sống chung với chị T và cần được sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của mẹ, để ổn định về sức khoẻ và tinh thần cho các cháu. Hơn nữa, chính quyền địa phương xác định chị T có đủ điều kiện về kinh tế và chăm sóc con tốt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V1 và cháu T2. Anh T3 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Phước T được ly hôn với anh Đinh Hoàng T1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Phước T được tiếp tục nuôi con chung tên Đinh Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 21/02/2013 và Đinh Nguyễn Khánh T2, sinh ngày 23/4/2015; Anh T3 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí : Chị Nguyễn Phước T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000756 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công (N là thành phố G), tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
3. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án dân sự, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
Nơi nhận:
LÊ THỊ HẰNG | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 134/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 134/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
