|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06/6/2024
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Huỳnh Văn Tý.
Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/2/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Bé M, sinh năm 1998.
Địa chỉ: khóm Đ, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: anh Trần Thanh P, sinh năm 1997
Địa chỉ: khóm T, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn chị M có mặt. Bị đơn anh P vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Trần Thị Bé M trình bày:
Chị với anh Trần Thanh P chung sống với nhau vào năm 2019, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N. Cuộc sống sau khi cưới không hạnh phúc vì khi sống chung với anh P chị mới biết anh P ăn chơi như đánh bài, tài xỉu, đá gà ... gây ra nợ nần buộc chị phải trả nợ thay nhiều lần, tất cả tiền bạc làm ra đều trả nợ cho anh P. Ngoài ra chị còn phát hiện anh P có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Do không chịu đựng được nên chị đã quyết định sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm và vợ chồng cũng không thể hàn gắn lại được nên chị M yêu cầu giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bé M xin được ly hôn anh Trần Thanh P.
Về quan hệ con chung: có một con chung tên Trần Huy B sinh ngày 28/12/2020. Sau ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không có.
- Bị đơn anh Trần Thanh P: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh P nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh P vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị M.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Bé M.
Về hôn nhân: bà Trần Thị Bé M được ly hôn với ông Trần Thanh P.
Về con chung: giao con Trần Huy B sinh ngày 28/12/2020 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
2
Về án phí: bà Mi phải chịu 300.000 đòng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn anh Trần Thanh P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm T, thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
[1.2] Bị đơn anh Trần Thanh P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Chị Trần Thị Bé M và anh Trần Thanh P chung sống với nhau từ năm 2019 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 169, ngày 06/12/2019. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bé M, thấy: từ khi bắt đầu sống chung cuộc sống vợ chồng giữa chị M và anh P đã không hạnh phúc. Anh P không chăm lo cho gia đình, thường xuyên chơi tài xỉu, đá gà ... gây ra nhiều nợ buộc chị M phải trả thay nhiều lần. Chị M đã nhiều lần và cho anh nhiều Phong cơ hội nhưng anh P vẫn không thay đổi. Ngoài ra chị M phát hiện anh P có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Do không thể tiếp tục sống chung với anh P được nữa nên tháng 7/2023 chị M đã quyết định sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân anh P có nhắn tin và gặp để vợ chồng quay lại sống chung nhưng chị M không đồng ý. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh P vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị M để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh P không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.
[2.3] Về quan hệ con chung: Qua chứng cứ chị M cung cấp thì chị M và anh P có một con chung tên Trần Huy B sinh ngày 28/12/2020. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị M là người trực tiếp nuôi con. Trong quá trình giải quyết, anh P cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến tranh chấp về phần con chung. Xét thấy, để ổn định cuộc sống cho con, có đủ căn cứ để giao cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: không có.
[3] Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là có căn cứ.
[4] Về án phí: chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bé M.
- - Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bé M được ly hôn với anh Trần Thanh P.
- - Về quan hệ con chung: giao con chung Trần Huy B sinh ngày 28/12/2020 cho chị Trần Thị Bé M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Chị Trần Thị Bé M và anh Trần Thanh P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- - Về tài sản chung và nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Trần Thị Bé M và anh Trần Thanh P phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: chị Trần Thị Bé M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 013627 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Trần Thị Bé M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh Trần Thanh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |
5
Bản án số 134/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 134/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Bé Mi xin ly hôn anh Trần Thanh P
