Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày 03-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn, bà Lò Thị Minh.

Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 25/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST- HS ngày 20/5/2024 đối với bị cáo:

Giàng Thị N (tên gọi khác Hàng Thị N), sinh năm 1956 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hàng A L (đã chết) và bà Lầu Thị C; bị cáo chồng là Giàng A P và có 07 con; tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 77 ngày 18/7/2003, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt Giàng Thị N (bí danh Hàng Thị N) 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Sản xuất trái phép chất ma túy, án phí 50.000 đồng. Giàng Thị N chưa chấp hành nộp án phí. (Chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Bản án số 16 ngày 07/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt Hàng Thị N (Tên gọi khác là Giàng Thị N) 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bản án không thể hiện tiền án năm 2003 của Giàng Thị N nên không xác định tình tiết tăng nặng. (Đã được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay, có mặt.

Người phiên dịch: Ông Sồng A P. Địa chỉ: Tiểu khu X, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12h ngày 29/01/2024 tổ công tác Công an thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, tiến hành kiểm tra đối với Giàng Thị N. Qua kiểm tra, phát hiện Nếnh đang cất giấu trong túi áo khoác đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong đựng 02 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Nếnh khai nhận đó là ma túy của N tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Giàng Thị N, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Giàng Thị N bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.

Ngày 29/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Giàng Thị N được 0,2 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định. Mẫu có ký hiệu N.

Tại Kết luận giám định số 477 ngày 02/02/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; Loại Methamphetamine."

Quá trình điều tra Giàng Thị N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy và đã 02 lần bị kết án về tội ma túy, năm 2003 N bị bắt cùng Giàng Thị D (là mẹ chồng của Giàng Thị N) và Hàng Thị D và đã bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xét xử cho hưởng án treo về tội Sản xuất trái phép chất ma túy. Năm 2011, Giàng Thị N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và đã bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 7 năm 6 tháng tù, đến khi ra tù N tái nghiện chất ma túy. Khoảng 11h30' ngày 29/01/2024, N đi trên đường dân sinh thuộc Tiểu khu P, thị trấn N mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, N gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi N đã hỏi và mua được của người đàn ông 01 gói giấy bạc bên trong đựng 02 viên Hồng phiến với giá 10.000 đồng. N cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi áo khoác đang mặc rồi đi về nhà. Trên đường đi về gặp tổ công tác Công an thị trấn N đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.

Ngày 01/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu quyết định trưng cầu giám định dấu vân tay trên danh chỉ bản lập ngày 31/01/2024 ký hiệu N1 với dấu vân tay trên danh chỉ bản số 4440 lập ngày 08/8/2011 ký hiệu N2 đối với Giàng Thị N. Tại kết luận giám định số 498 ngày 07/02/2024 kết luận: Dấu vân tay trên chỉ bản, danh bản mẫu cần giám định, ký hiệu N1 so với dấu vân tay trên chỉ bản, danh bản mẫu so sánh, ký hiệu N2 là dấu vân tay của cùng một người.

Ngày 27/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu quyết định trưng cầu giám định dấu vân tay trên danh chỉ bản lập ngày 31/01/2024 ký hiệu N1 so với dấu vân tay trên biên bản ghi lời khai ngày 06/3/2003 bản phô tô, ký hiệu M1; Dấu vân tay trên biên bản ghi lời khai ngày 26/3/2003 bản phô tô, ký hiệu M2; Dấu vân tay trên biên bản hỏi cung ngày 29/3/2003 bản phô tô, ký hiệu M3 đối với Giàng Thị N. Tại Kết luận giám định số 798 ngày 29/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Không đủ cơ sở kết luận dấu vân tay cần giám định, ký hiệu N1 so với dấu vân tay trên mẫu so sánh, ký hiệu M1, M2, M3 có phải là dấu vân tay của cùng một người hay không. Vì dấu vân tay cần giám định, ký hiệu N1 mờ nhòe (không đủ các đặc điểm để kết luận truy nguyên) và dấu vân tay mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là bản phô tô coppy.”

Tại bản Cáo trạng số 74/CT- VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị can Giàng Thị N (tên gọi khác Hàng Thị N) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Giàng Thị N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt Giàng Thị N từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Vật chứng còn lại vụ Giàng Thị N bắt ngày 29/01/202 (đựng 01 mảnh giấy bạc và phong bì niêm phong ban đầu) và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Giàng Thị N.

  • - Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị N.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 10.000 đồng vào ngày 29/01/2024, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Giàng Thị N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên ngày 29/01/2024 bị cáo Giàng Thị N đã có hành vi tàng trữ 0,20 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 77 ngày 18/7/2003 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt bị cáo Giàng Thị N (bí danh Hàng Thị N) 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Sản xuất trái phép chất ma túy. Bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo chưa thi hành phần án phí theo quyết định của bản án nên chưa được xóa án tích, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy và có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án về tội phạm ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận năm 2003 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu đưa ra xét xử cùng Giàng Thị D (là mẹ chồng của bị cáo) và Hàng Thị D về tội Sản xuất trái phép chất ma túy. Năm 2011, bị cáo bị Tòa án nhân huyện Mộc Châu xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Vật chứng còn lại vụ Giàng Thị N bắt ngày 29/01/2024 (đựng 01 mảnh giấy bạc và phong bì niêm phong ban đầu) và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Giàng Thị N. Xét thấy, đây là những vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Giàng Thị N như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

[6] Về án phí: Bị cáo Giàng Thị N là người cao tuổi, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7] Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Giàng Thị N (tên gọi khác: Hàng Thị N) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Giàng Thị N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 29/01/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Vật chứng còn lại vụ Giàng Thị N bắt ngày 29/01/2024 (đựng 01 mảnh giấy bạc và phong bì niêm phong ban đầu) và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Giàng Thị N.

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị N.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Án văn, Lưu HSVA .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 30 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger