Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn

và xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nam Tuấn

Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn và xác định cha cho con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 11/TB-TA ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, quận A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1992; nơi ĐKTT: Tổ dân phố H, phường A, quận H (huyện A cũ), thành phố Hải Phòng, nơi ở hiện tại: Hàn Quốc; vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Tiến Đ, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường L (thị trấn A cũ), quận A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn vào ngày 24/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A (nay là phường A, quận H), thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, đến tháng 5 năm 2018 thì anh C đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc với nhau nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh C không quay trở về Việt Nam sinh sống và làm việc, vợ chồng không còn tin tưởng nhau về tình cảm, thường xảy ra bất đồng quan điểm sống. Do mâu thuẫn vợ chồng nên đầu năm 2022, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Từ đó đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn C.

Về con chung: Chị và anh Phạm Văn C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về xác định cha cho con: Trong thời gian sống ly thân với anh C, chị quen biết và có quan hệ tình cảm, có con chung với anh Phạm Tiến Đ. Ngày 28/10/2024, chị đã sinh một bé trai dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1 theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Theo Kết luận giám định ADN số KQ20875724 ngày 09/11/2024 của Công ty TNHH D1 kết luận: Người có mẫu ghi tên Phạm Tiến Đ có quan hệ huyết thống cha - con với người có mẫu ghi tên Phạm Minh C1, với độ tin cậy 99,999999%. Chị D đề nghị Tòa án xác định anh Phạm Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024 theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Anh Phạm Văn C không phải là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1.

Về địa chỉ hiện tại và lời khai của bị đơn anh Phạm Văn C:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo hai lần về việc yêu cầu cung cấp địa chỉ ở Hàn Quốc của anh C cho bà Phạm Thị N là mẹ đẻ của anh C, bà N trình bày: Anh Phạm Văn C vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại với bà. Bà N đã thông báo cho anh C biết việc chị D có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh C và xác nhận anh Nguyễn Tiến Đ1 là cha của cháu bé dự đặt tên là Phạm Minh C1, đồng thời yêu cầu anh C cung cấp địa chỉ hiện tại ở Hàn Quốc và gửi lời khai của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị D cho Tòa án. Tuy nhiên anh C không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và không gửi lời khai cho Tòa án. Vì vậy, bà không cung cấp được địa chỉ hiện tại của anh C ở Hàn Quốc cho Tòa án.

Anh C trao đổi qua điện thoại với bà N cung cấp lời khai: Về quan hệ hôn nhân: Chị D đã trao đổi với anh C về việc ly hôn từ mấy tháng trước. Anh C không còn tình cảm với chị D nhưng anh không đồng ý ly hôn với chị D vì chị D còn cầm của anh số tiền 880 triệu đồng anh gửi từ Hàn Quốc về cho chị D và chị D có quan hệ tình cảm với người khác, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng.

Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của bà N đối với yêu cầu khởi kiện của chị D:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn vào ngày 24/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A (nay là phường A, quận H), thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng vợ chồng ông bà. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do chị D có quan hệ tình cảm với người khác. Mặt khác, từ đầu năm 2019 đến nay, anh C đi Hàn Quốc làm việc, do khoảng cách địa lý nên vợ chồng anh chị không có điều kiện gần gũi, chia sẻ với nhau. Từ đầu năm 2021, chị D không chung sống cùng gia đình bà và anh chị đã sống ly thân. Nay chị D có đơn xin ly hôn với anh C, gia đình bà không đồng ý cho anh chị được ly hôn vì chị D còn nợ anh C khoản nợ là 880 triệu đồng là tiền anh C gửi về từ nước ngoài cho chị D trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2021. Chị D đã viết giấy nhận nợ và xin anh C 380 triệu đồng, còn nợ anh 500 triệu đồng, hẹn trả trong 10 năm, mỗi tháng là 04 triệu đồng. Bà yêu cầu chị D phải trả anh C số tiền 500 triệu đồng thì gia đình mới đồng ý cho anh chị ly hôn. Do đây là khoản nợ của chị D với anh C, anh chị tự giải quyết theo thỏa thuận.

Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về việc xác định cha cho con: Gia đình xác nhận cháu bé dự đặt tên là Phạm Minh C1 không phải là con đẻ của anh C và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Tiến Đ trình bày:

Trong thời gian chị D ly thân với anh C, anh Đ quen biết và có quan hệ tình cảm với chị D. Anh chị có 01 con chung là cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024 theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Theo Kết luận giám định ADN số KQ20875724 ngày 09/11/2024 của Công ty TNHH D1 kết luận: Người có mẫu ghi tên Phạm Tiến Đ có quan hệ huyết thống cha - con với người có mẫu ghi tên Phạm Minh C1, với độ tin cậy 99,999999%. Anh Đ đề nghị Tòa án xác định anh Đ là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024 theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên

đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn cố tình giấu địa chỉ vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Phạm Văn C; về con chung: Chị Vũ Thị D và anh Phạm Văn C không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; về tài sản chung: Chị Vũ Thị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024; giới tính: Nam theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Anh Phạm Văn C không phải là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, tranh chấp xác định cha cho con. Tại thời điểm thụ ly vụ án, bị đơn anh Phạm Văn C có nơi đăng ký thường trú tại phường A, quận H, thành phố Hải Phòng và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc. Do vậy, theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Vũ Thị D và anh Phạm Tiến Đ đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Anh C đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, không rõ địa chỉ và vắng mặt tại địa phương. Tòa án đã yêu cầu bà Phạm Thị N là mẹ đẻ của anh C cung cấp địa chỉ của bị đơn hai lần và thông báo cho bị đơn biết để gửi bản tự khai cho Tòa án nhưng bà N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của bị đơn ở Hàn Quốc và bị đơn không cung cấp lời khai cho Tòa án. Vì vậy, trường hợp này cần xác định anh C cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của anh C; đồng thời anh C đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua mẹ đẻ của anh C nhưng anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A (nay là phường A, quận H), thành phố Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị D và anh Phạm Văn C là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh C sang nước ngoài làm việc từ tháng 5/2018, không trở về Việt Nam sinh sống, làm việc và do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau về tình cảm. Hiện anh chị sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh C.

[4] Về con chung: Chị Vũ Thị D và anh Phạm Văn C không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc giao nộp ý kiến và tài liệu, chứng cứ số 234/TB-TA ngày 22/5/2025 cho bị đơn anh Phạm Văn C, yêu cầu anh C giao nộp văn bản ý kiến của anh C đối với yêu cầu khởi kiện của chị D về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung trong đó anh có quyền yêu cầu giải quyết tài sản chung, khoản nợ chung giữa anh và chị D. Tuy nhiên, đến nay Tòa án không nhận được văn bản ý kiến của anh C. Quá trình giải quyết vụ án, chị Vũ Thị D không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về việc xác định cha cho con: Trong thời kỳ ly thân với anh C, chị D có quan hệ tình cảm và có con chung với anh Phạm Tiến Đ. Ngày 28/10/2024, chị D đã sinh cháu bé dự đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024 theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Tại Công văn số 010904/2025/CV-AND ngày 09/4/2025 của Công ty TNHH D1 xác nhận Công ty trực tiếp thu mẫu giám định và Kết luận giám định ADN số KQ20875724 ngày 09/11/2024 là đúng. Do đó, cần áp dụng Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D: Xác định anh Phạm Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024; giới tính: Nam theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Anh Phạm Văn C không phải là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1.

[7] Về án phí sơ thẩm: Chị Vũ Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. Do vụ án tranh chấp về xác định cha cho con chưa thành nên căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, anh Phạm Tiến Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm về xác định cha cho con.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 478, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102, Điều 127, Điều 128 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị D:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Phạm Văn C.
  • - Về con chung: Chị Vũ Thị D và anh Phạm Văn C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Chị Vũ Thị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • - Về xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Tiến Đ là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1, sinh ngày 28/10/2024; giới tính: Nam do chị Vũ Thị D sinh ra ngày 28/10/2024 theo Giấy chứng sinh số 009311, quyển số 94/2024 cấp ngày 28/10/2024 tại Bệnh viện P. Anh Phạm Văn C không phải là cha đẻ của cháu bé dự kiến đặt tên là Phạm Minh C1.

2. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001076 ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Vũ Thị D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Tiến Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bị đơn anh Phạm Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND phường An Hưng, quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 24/01/2018);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn và xác định cha cho con

  • Số bản án: 134/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn D-C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger