TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 134/2025/HNGĐ – ST Ngày: 09 - 10 - 2025 “V/v ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Thành Phước
Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 10/2025/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025, về tranh chấp: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 9 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 135/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nay là ấp Đ, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
* Bị đơn: Anh Võ Thanh B, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nay là ấp Đ, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng H trình bày:
Chị và anh Võ Thanh B quen nhau một thời gian thì tiến tới hôn nhân, vào năm 2018 có làm lễ cưới. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Cần Thơ vào ngày 16/4/2018 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc; khoảng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn về cuộc sống. Anh Bình thường tụ tập cờ bạc, ăn chơi; chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh B không thay đổi, dẫn đến vợ chồng bất đồng, thường hay cãi nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2025 đến nay, chị về nhà cha mẹ ruột sống.
Anh chị đã nhiều lần cố gắng khắc phục để xây dựng cuộc sống gia đình nhưng không được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Thanh B.
Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Võ Thanh B đã được Tòa án tổng đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng H giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án: chị yêu cầu ly hôn với anh B, lý do là tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân do anh B ăn chơi cờ bạc, đã nợ nần khoản mười năm nay, như đá gà trên mạng, số đề; vợ chồng cãi vả suốt về vấn đề ăn chơi của anh B. Năm 2018, vợ chồng kết hôn không có tài sản chung. Hiện nay chị và gia đình đã bán hết nhà đất về Cần Thơ sinh sống khoảng một tháng nay. Còn anh B thì không biết ở đâu, cha mẹ của anh B thì ở nhà gần nhà cha mẹ chị cách khoảng 1km. Anh B biết chị nộp đơn và chị có báo cho anh B hai lần đến Tòa án nhưng anh B không đi, lần thứ ba chị gọi thì anh B tắt máy, không liên lạc được. Cha mẹ chồng, anh chị chồng đều biết anh B cờ bạc nợ nần, họ cũng có khuyên chị “chịu đựng nợ nần nhiều lần rồi, con có quyền ly hôn”. Những lần chị gọi điện, anh B nói muốn ly hôn thì nộp đơn ra Tòa. Anh B nợ nhiều lần số tiền rất lớn, chị đã trả thay nhiều lần nhưng chị không nhớ số tiền cụ thể, tổng cộng gần một tỷ đồng; lần sau cùng chị nhớ là trả thay anh B 75.000.000 đồng Nguồn tiền trả nợ thay anh B là của cha mẹ ruột cho chị và tiền chị đi làm công nhân, buôn bán thêm dành dùm được. Về con chung: không có. Về tài sản chung, nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Võ Thanh B vắng mặt không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Hồng H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Võ Thanh B. Do đó, quan hệ tranh chấp được Tòa án xem xét giải quyết là “Tranh chấp ly hôn”; bị đơn anh Võ Thanh B có nơi cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp Đ, xã T, tỉnh Vĩnh Long) nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Bị đơn Võ Thanh B đã được tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nhiều lần, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2018, chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Võ Thanh B kết hôn theo phong tục, tập quán; có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Cần Thơ vào ngày 16/4/2018 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh B là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẩn vợ chồng: Chị H cho rằng vợ chồng sống chung không hạnh phúc, hòa thuận, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi vả dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt, mâu thuẩn kéo dài và nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu ly hôn với anh Võ Thanh B. Anh B đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo lời trình bày chị H, hiện nay tình trạng vợ chồng của chị H và anh B đã thiếu đi sự chăm sóc lẫn nhau là đã vi phạm Điều 19 Luật hôn nhân gia đình. Cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh B đã mâu thuẩn trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó, chị H yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ.
- Về con chung: không có nên không xem xét.
- Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: chị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng H ly hôn với anh Võ Thanh B.
- Về con chung: không có.
- Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Hồng H phải nộp phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long theo lai thu số 0000355 ngày 17 tháng 7 năm 2025.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Trí Trường |
Bản án số 134/2025/HNGĐ – ST ngày 09/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn
- Số bản án: 134/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng H ly hôn với Võ Thanh B
