TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2025/DS-PT
Ngày: 27-6-2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thái Bình
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17, 23 và 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 97/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 77/2025/QĐ-PT ngày 07/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 90/2025/QĐ-PT ngày 03/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 90/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh T – Sinh năm: 1960. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1969. Trú tại: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư - Công ty L1 - Đoàn luật sư tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1 – Sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị Á – Sinh năm: 1969. Cùng địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Vũ Mai V – Sinh năm: 1974. Địa chỉ: Khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Minh T
Tại phiên tòa, có mặt bà Lê Thị Minh T, ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Á; bà Huỳnh Vũ Mai V và ông Nguyễn Văn K vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2019 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị Minh T trình bày:
Vào năm 1976 bà Lê Thị Minh T (tên thường gọi Lê Thị L) cùng cha là ông Lê G (chết năm 1993) và mẹ là bà Lưu Thị Q (chết năm 1998) đến khu vực H, thuộc Tiểu khu A (nay là khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) khai hoang 01 thửa đất có diện tích 15.000 m².
Ngày 28/02/1994 vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, do ông G mới mất, nên bà Q cùng bà T ký Giấy hồi công đất và hoa màu để chuyển nhượng cho ông Phạm Hữu T2, là cha của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Á, thửa đất ven biển chiều dài 200m, chiều rộng từ biển lên tới động rừng 40m, trong đó có trồng 100 cây dừa và 20 cây đào, với giá 4.000.000 đồng, phần đất có tứ cận như sau: Đông giáp đất ông Huỳnh Thanh T3; Tây giáp đất ông Nguyễn T4; Nam giáp biển; Bắc giáp động rừng, nên phần đất còn lại của gia đình là khoảng 7.000 m².
Năm 1998 ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Á đến khu đất của ông Phạm Hữu T2 xây dựng khu du lịch, vào ngày 01/03/2002 bà Á thuê người làm hàng rào, cắm cột trên phần đất 7.000 m² của gia đình bà T nên từ đó phát sinh tranh chấp, sự việc đã được UBND phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận tiến hành hòa giải việc tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng không thành.
Căn cứ vào Trích đo bản đồ vị trí đất tranh chấp, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản xác minh thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, diện tích 5246m², tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, nên bà T khởi kiện yêu cầu xác định thửa đất này thuộc quyền sử dụng của bà T.
Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm cũng như đơn bổ sung ngày 19/12/2023 bà T yêu cầu Tòa án xác định cho bà T chỉ được quyền sử dụng ½ phần diện tích đất tranh chấp, qua đó yêu cầu ông T1, bà Á và bà V giao trả cho bà T 2.623m², quyền sử dụng tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, trong tổng số 5246m² đất, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận cho bà được quyền sử dụng.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
3
Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn và cho rằng những tài liệu, chứng cứ để chứng minh nội dung yêu cầu của bị đơn là không đúng quy định pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án và Trích lục bản đồ vị trí khu đất tranh chấp của Công ty TNHH T8, Biên bản xác minh thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, nên bà T khởi kiện yêu cầu xác định thửa đất này thuộc quyền sử dụng của bà T. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm bà T chỉ yêu cầu Tòa án xác định cho bà T được quyền sử dụng ½ phần diện tích đất tranh chấp và buộc ông T1, bà Á, bà V phải giao trả cho bà T 2.623m², quyền sử dụng tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, thuộc khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để bà T được quyền sử dụng, là đúng quy định pháp luật vì đất này có nguồn gốc từ gia đình bà T khai hoang nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đều trình bày:
Ông Phạm Hữu T2 (chết năm 1999), là cha của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Á, vào ngày 28/02/1994 ông T2 có sang nhượng lại của bà Lưu Thị Q và bà Lê Thị Minh T (tên thường gọi Lê Thị L) một thửa đất theo Giấy hồi công đất và hoa màu có chiều dài 200m, chiều ngang 40m, tổng diện tích 8000m², trên đất có trồng 100 cây dừa và 20 cây đào, với giá 4.000.000 đồng, Giấy hồi công đất và hoa màu đã được tổ dân phố xác nhận để làm chứng cứ cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngay sau khi các bên thỏa thuận ký tên vào Giấy hồi công đất và hoa màu ngày 28/02/1994 thì ông T2 đã giao lại thửa đất này cho ông T1, bà Á sử dụng và thu hoạch cây ăn trái từ những cây dừa và cây đào để lo cuộc sống cho gia đình. Đến ngày 15/4/1998 ông T1 và bà Á làm hợp đồng cho Công ty TNHH T9 thuê đất để kinh doanh du lịch xanh, sau đó Nhà nước có chủ trương làm đường giao thông đi từ Mũi Né đến L, Suối nước do đó phần đất này được chia thành hai thửa đất và ông T1 cùng với bà Á vẫn tiếp tục sử dụng nên ông T1 có tên đăng ký trong bản đồ địa chính của UBND phường N và ông T1 cũng là người nộp thuế đất từ đó cho đến nay.
Việc bà T không có giấy tờ chứng minh bà T có quyền sử dụng 5246m² tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận mà yêu cầu Tòa án xác định cho bà T được quyền sử dụng ½ phần diện tích đất tranh chấp, qua đó yêu cầu ông T1 giao trả cho bà T 2.623m², quyền sử dụng tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là không đúng pháp luật nên ông T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện.
* Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Á đều trình bày:
4
Ông Phạm Hữu T2 (chết năm 1999), là cha của bà Á và ông T1, do có nhu cầu sử dụng đất nên ngày 28/02/1994 ông T2 đã sang nhượng lại của bà Lưu Thị Q và bà Lê Thị Minh T (tên thường gọi Lê Thị L) một thửa đất có diện tích 8000m², theo giấy mua bán thể hiện phần đất bán có chiều dài 200m, chiều ngang 40m, trên đất có trồng 100 cây dừa và 20 cây đào, với giá 4.000.000 đồng, giấy mua bán đã được tổ dân phố xác nhận, đồng thời tại giấy mua bán bà T, bà Q đã cam kết cha tôi là ông Phạm Hữu T2 vĩnh viễn làm chủ phần đất này.
Việc này cũng được bà T thừa nhận theo Biên bản làm việc ngày 13/3/2002 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, đó là ngày 28/02/1994 mẹ tôi là bà Lưu Thị Q và tôi là Lê Thị Minh T có sang nhượng đất và hoa màu cho ông Phạm Hữu T2 diện tích đất sang nhượng lúc đó chưa xác định rõ diện tích, chỉ xác định tứ cận và trên đất bán lúc đó có 100 cây dừa và 20 cây đào. Thực tế hiện nay ở phía Bắc giáp động rừng còn có 18 cây đào và 01 số cây đào nhỏ do tự mọc không ai trồng, tại gốc đào lớn hiện còn 02 ngôi mộ đất con tôi chôn năm 1982. Sau khi sang nhượng đất, gia đình tôi không còn ở đây mà về tổ dân phố ở, lúc gia đình tôi ở đây chưa có đường G - L.
Nên việc bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cho bà T được quyền sử dụng ½ phần diện tích đất tranh chấp, qua đó yêu cầu bà Á giao trả cho bà T 2.623m², quyền sử dụng tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là không đúng pháp luật nên bà Á không đồng ý.
* Tại bản tự khai và các lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Vũ Mai V đều trình bày:
Ngày 26/9/1994 bà Huỳnh Vũ Mai V kết hôn với ông Nguyễn Văn T1, sau khi kết hôn thì cha chồng là ông Phạm Hữu T2 có cho vợ chồng khu đất mà ông T2 mua lại của bà Lưu Thị Q và bà Lê Thị Minh T (bí danh L). Khi cho đất chỉ nói bằng miệng, không viết giấy tờ và cũng không đo diện tích là bao nhiêu, khu đất có vị trí Đông giáp ông Huỳnh Thanh T3, Tây giáp ông Nguyễn T4, Nam giáp biển, Bắc giáp động rừng. Năm 1998 khi Nhà nước mở đường đi, bà V, ông T1 tiếp tục canh tác trên phần đất này nên có trồng thêm những cây lâu năm như cây dừa, cây điều, các loại hoa màu khác và xây dựng 02 dãy nhà trọ cấp 4A, đồng thời ông T1 đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất với chính quyền địa phương.
Nên việc bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cho bà T được quyền sử dụng ½ phần diện tích đất tranh chấp, qua đó yêu cầu bà V giao trả cho bà T 2.623m², quyền sử dụng tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là không đúng pháp luật nên bà V không đồng ý.
* Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án và Trích lục bản đồ vị trí khu đất tranh chấp của Công ty TNHH T8: Phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, diện tích 5246m², đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
5
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 3a/QĐ-SCBS ngày 31/01/2024, đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 86, Điều 91, Điều 93, Điều 95, Điều 147, Điều 157, Điều 164, Điều 165, Điều 233, Điều 235, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 3, Điều 97, Điều 100, Điều 166, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai; Các Điều 2, 6, 7, 7A, 7B, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T đối với bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Vũ Mai V về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Không công nhận cho bà Lê Thị Minh T được quyền sử dụng 2.623m² đất, tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, địa chỉ thửa đất: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/02/2024, bà Lê Thị Minh T nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn xác định kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T1, bà Á và bà V phải trả cho bà T 2.623m² đất tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112 tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P và công nhận diện tích đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nội dung kháng cáo của bà Lê Thị Minh T nhận thấy:
Thứ nhất, bà Lê Thị Minh T không có tài liệu nào chứng minh diện tích đất mà cha mẹ bà đã khai hoang tại L trước năm 1994 là bao nhiêu.
Thứ hai, theo "Giấy hồi công đất và hoa màu" ngày 28/02/1994 giữa bà Lưu Thị Q, bà Lê Thị L (Lê Thị Minh T) và ông Phạm Hữu T2 thể hiện việc hồi công toàn bộ thửa đất của bà Q, bà L tại L. Lý do hồi công là do bà Q, bà L
6
chuyển hộ về dân phố E, phường M. Mặc dù, có thể hiện diện tích là dài 200m, ngang 40m nhưng đây là diện tích do các bên tự đo đạc thủ công (bà T khai đo bằng bước chân) vào năm 1994. Như vậy, không có cơ sở xác định bà T chỉ hồi công một phần diện tích đất và hoa màu cho ông T2 như trình bày trong vụ án.
Thứ ba, từ năm 1994 sau khi hồi công đất và hoa màu, bà T đã không sử dụng đất đến năm 2003, sau khi có đường nhựa bà T mới bắt đầu tranh chấp với ông T1, bà Á. Riêng ông T1, bà Á quá trình sử dụng đất đã chặt cây, hiến đất để làm đường nên sau khi có đường nhựa thì thửa đất ông T1, bà Á sử dụng bị tách thành 02 thửa: 01 thửa phía biển và 01 thửa phía đồi. Như vậy, căn cứ quy định pháp luật đất đai qua các thời kỳ và đến nay được quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất. Bà T không sử dụng đất từ năm 1994 đến nay nên việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ chấp nhận.
Thứ tư, tại phiên tòa sơ thẩm bà T trình bày vì không có giấy tờ chứng minh nên ông T1, bà Á nhớ công sức của gia đình bà T mà trả lại ½ diện tích đất cho bà T là không có cơ sở.
Như vậy, bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T là có căn cứ, đúng pháp luật nên kháng cáo của bà Lê Thị Minh T là không có cơ sở. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Minh T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của đương sự, Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Nguyên đơn bà Lê Thị Minh T kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn K là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (được bà T đồng ý); bà Huỳnh Vũ Mai V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[3] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn và người liên quan trả lại đất và công nhận đất của nguyên đơn nhưng bị đơn và người liên quan không đồng ý và cho rằng đất là của bị đơn và người liên quan. Vụ án tranh chấp đất đai đã được UBND phường M hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật về tranh chấp đất đai và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
7
dân sự. Khoản 24 Điều 3, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai. Điều 166 Bộ luật dân sự.
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tiến hành đo đạc diện tích đất tranh chấp (phía đồi) có diện tích là 5246m² thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tọa lạc tại khu phố L, phường M.
[4.2] Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành đo đạc lại diện tích đất tranh chấp và không tranh chấp theo yêu cầu, chỉ dẫn của bà T thì phần đất phía đồi có diện tích là 5156,1m² và phần đất phía biển có diện tích là 6.662,5m², đường X có diện tích là 2361,5m². Tổng cộng 14.180,1m²; cạnh phía biển dài 146,26m, cạnh ngang 67,10m; 56,25m; cạnh phía đồi 61,17m.
Phần đất phía đồi (là diện tích đất tranh chấp) theo Bản đồ 920 đo đạc năm 2010 và kiểm tra nghiệm thu năm 2017, vị trí khu đất tranh chấp được đo đạc nêu trên thuộc thửa số 3, tờ bản đồ số 112, tỷ lệ 1/2000, diện tích 5446,2m², quy chủ đứng tên ông Nguyễn Văn T1.
Phần đất phía biển thì ông Nguyễn Văn T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684964, thửa đất số 20, tờ 11, diện tích 5030,8m² đất trồng cây lâu năm.
[4.3] Về nguồn gốc, chuyển nhượng đất tranh chấp:
Bà T cho rằng vào năm 1976 bà cùng cha mẹ có khai hoang một thửa đất có diện tích 15.000m² tại khu phố L, phường M, thành phố P. Đến ngày 28/02/1992 vì gia đình khó khăn, cha bà mất nên mẹ con bà có bán cho ông Phạm Hữu T2 (là cha ông T1 và bà Á) diện tích đất 8000m² (đất phía biển), có chiều dài 200m, chiều rộng 40m, giá 4.000.000 đồng. Trên đất có trồng 100 cây Dừa và 20 cây Đào, đất có tứ cận Đông giáp đất ông Huỳnh Thanh T3; Tây giáp đất ông Nguyễn T4; Nam giáp biển; Bắc giáp động rừng.
Phần đất còn lại (phía đồi) khoảng 7000m², trên đất có trồng 26 cây Đ và 02 ngôi mộ của con bà T. Phần đất này không bán cho ông T2 và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1998 ông T1 và bà Á đến xây dựng khu du lịch trên đất phía biển và năm 2002 lấn chiếm luôn phần đất phía đồi của bà, bà khiếu nại đến UBND phường M giải quyết nhưng không thành, bà tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố P giải quyết nhưng không công nhận nội dung đơn khiếu nại của bà ngày 20/9/2003. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, bà đã khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xét xử tuyên hủy quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND thành phố P, để các bên khởi kiện vụ án dân sự. Do đó, bà T đã khởi kiện và yêu cầu ông T1, bà Á và bà V phải trả cho bà ½ diện tích đất là 2.623m² (trong tổng số diện tích đất tranh chấp 5246m²) thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tọa lạc tại khu phố L, phường M, đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của bà.
8
[4.4] Như vậy, trong vụ án này bà T xác định mẹ con bà chỉ bán cho ông T2 phần đất phía biển, không bán cho ông T2 phần đất phía đồi và bà chỉ tranh chấp đối với phần đất phía đồi. Tuy nhiên, xét thấy, bà T cho rằng phần đất phía đồi hay phần đất phía biển cũng là do cha mẹ bà khai hoang cùng một thửa đất có diện tích 15.000m² (trong đó đã bán cho ông T2 8000m², còn lại 7000m²) nhưng bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thể hiện diện tích đất cha mẹ bà khai hoang tại khu phố L, phường M trước năm 1994 là 15000m² (đã bán cho ông T2 8000m²), còn lại 7000m² hay giấy tờ chứng minh gia đình bà có 02 thửa đất phía đồi và phía biển.
[4.5] Đối với ông T1 và bà Á thống nhất nguồn gốc đất tranh chấp là do gia đình bà T khai hoang nhưng đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông Phạm Hữu T2 theo “Giấy hồi công đất và hoa màu” được lập vào ngày 28/02/1994, trong đó có thể hiện nội dung như sau: Bà Lưu Thị Q và con Lê Thị L (Lê Thị Minh T) có tọa lạc một miếng đất, có trồng dừa tại tổ dân phố L, nay chuyển hộ về dân phố E, Mũi Né nên miếng đất này không có ai coi ngó hoa màu nên hồi công lại cho ông Phạm Hữu T2 làm chủ vĩnh viễn và coi ngó miếng đất, có chiều dài 200m, ngang 40m, giá 4.000.000 đồng; Đông giáp đất ông Huỳnh Thanh T3; Tây giáp đất ông Nguyễn T4; Nam giáp biển; Bắc giáp động rừng; trên đất trồng Dừa 100 cây và Đào 20 cây (Giấy này có xác nhận của ông Nguyễn Lục T5, Tổ trưởng tổ dân phố L vào ngày 29/02/1994).
Như vậy, nội dung giấy hồi công đất và hoa màu đã thể hiện rõ bà Q và bà T chỉ có một miếng đất tại dân phố L, sau khi hồi công đất và hoa màu cho ông T2 thì gia đình bà T chuyển về sinh sống tại dân phố E, Mũi N và giao toàn bộ miếng đất cho ông T2 làm chủ vĩnh viễn, điều này cũng phù hợp với lời khai xác nhận của ông Nguyễn Lục T5 (vào ngày 15/12/2003) ông cho rằng, năm 1994 ông có xác nhận vào “Giấy hồi công đất và hoa màu” nói trên, lúc này chưa có đường và khu đất chỉ có một chứ không phải hai thửa như hiện nay. Khi mua bán xong cả hai mẹ con bà T không còn sống tại đây; của ông Võ Văn T6 khai rằng, năm 1995 ông được ông Phạm Hữu T2 cho ở tại khu đất này để chăm nom cây trái và thu hoạch. Khi mở đường căn nhà được tháo dỡ vì nằm trong lòng đường, ông ở đến năm 1998, số lượng đào 19 cây, hàng năm mẹ con bà T có đến khu đất này để tảo mộ cho con nhưng không đề cập đến phần đất đào ông đang làm cỏ và thu hoạch; của bà Bùi Thị T7 cho rằng bà T đã bán đất này nay đòi lại là không đúng.
[4.6] Trước khi bà T gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan quản lý đất đai, bà đã thừa nhận “Đó là ngày 28/02/1994 mẹ tôi là bà Lưu Thị Q và tôi là Lê Thị Minh T có sang nhượng đất và hoa màu cho ông Phạm Hữu T2 diện tích đất sang nhượng lúc đó chưa xác định rõ diện tích, chỉ xác định tứ cận và trên đất bán lúc đó có 100 cây dừa và 20 cây đào. Thực tế hiện nay ở phía Bắc giáp động rừng còn có 18 cây đào và 01 số cây đào nhỏ do tự mọc không ai trồng, tại gốc đào lớn hiện còn 02 ngôi mộ đất con tôi chôn năm 1982. Sau khi sang nhượng đất, gia đình tôi không còn ở đây mà về tổ dân phố ở, lúc gia đình tôi ở
9
đây chưa có đường G - L”( theo Biên bản làm việc vào ngày 13/3/2002 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P).
[4.7] Như vậy, thì việc ông T5, ông T6, bà T7 và bà T đã xác nhận bà Q và bà T có bán đất cho ông Phạm Hữu T2 là một thửa đất; bà T thừa nhận diện tích đất bán chưa được xác định rõ; trên đất có tài sản, có tứ cận đất, chưa có đường, lý do bán là do mẹ con bà T chuyển đi nơi khác và bà T xác định đất bán trong giấy hồi công là phù hợp với hiện trạng thực tế phía Bắc giáp động rừng, có đào và 02 ngôi mộ của con bà. Do đó, những lời khai xác nhận là hoàn toàn phù hợp với nội dung Giấy hồi công đất và hoa màu được lập vào ngày 28/02/1994 nêu trên. Do bà T không chứng minh được diện tích đất gia đình bà khai hoang trước năm 1994 là 15000m², hơn nữa căn cứ vào những lời khai xác nhận nêu trên thì đây được xem là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4.8] Về tứ cận đất tranh chấp: Nếu giả sử đất bà T sau khi bán cho ông T2 8000m², còn lại 7000m² thì tứ cận thửa đất phải thể hiện phía Bắc giáp với đất bà T nhưng trong giấy hồi công thì phía Bắc giáp với động rừng.
[4.9] Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B tham khảo bản đồ đo vẽ tháng 1/1997 của Xí nghiệp T10 (không ký nghiệm thu) do UBND phường M cung cấp, bản đồ có thể hiện đường giao thông có kích thước chiều rộng từ 10m đến 20m và không đồng đều; theo bản đồ vị trí khu đất thuê của Công ty D1 do Sở địa chính đo vẽ ngày 23/01/1999 liên quan đến khiếu nại của bà Á thì khu đất cũng có thể hiện là con đường đất. Tuy nhiên, xét thấy việc đo vẽ này là sau khi ông T2 hồi công đất từ 03 năm đến 05 năm nên không phải là cơ sở để xác định gia đình bà T có 02 thửa đất phía đồi và phía biển.
[4.10] Theo “Giấy hồi công đất và hoa màu” thể hiện đất sang nhượng có chiều dài 200m, chiều ngang 40m. Nhưng đây là diện tích do các bên tự đo đạc thủ công vào năm 1994, bà T cho rằng đo bằng “bước chân” và chính bà T cũng thừa nhận vào năm 2002 diện tích đất sang nhượng cho ông T2 năm 1994 là chưa xác định rõ diện tích. Trong quá trình xảy ra tranh chấp đất đai bà T cũng không xác định được chính xác diện tích đất của bà, mỗi lần đo đạc theo bà chỉ là một con số khác nhau, như đo năm 2004 là 3471,4m², đo năm 2019 là 5007,3m², đo năm 2023 là 5246m² và đo năm 2025 là 5156,1m², là không phù hợp với diện tích đất còn lại 7000m² như bà khai. Theo đo đạc thực tế bà T chỉ dẫn thì cạnh dài mặt biển là 146,26m; cạnh ngang là 67,10m và 56,25m là không phù hợp với giấy hồi công dài 200m, ngang 40m.
Như vậy, do bà T không cung cấp được giấy tờ chứng minh gia đình bà có 15000m² đất nên không có cơ sở xác định bà T chỉ hồi công một phần diện tích đất và hoa màu (phía biển), không hồi công phần diện tích đất và hoa màu (phía đồi) cho ông T2 vào năm 1994.
10
[5] Từ những nhận định trên có cơ sở khẳng định diện tích đất gia đình bà T khai hoang là một thửa đất và thửa đất này đã bán hết cho ông T2 vào năm 1994.
[6] Về quá trình sử dụng đất tranh chấp:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm bà T đều thừa nhận chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất vì không có giấy tờ liên quan đến đất tranh chấp ngoài giấy hồi công đất và hoa màu năm 1994, không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại chính quyền địa phương. Bà T cho rằng, trước đây hàng năm bà đều thu hoạch đào để chứng minh đất tranh chấp vẫn do bà quản lý, sử dụng và trên đất tranh chấp còn có 02 ngôi mộ của con bà chôn vào năm 1982, 1983 nhưng bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình sử dụng đất của bà. Mặt khác, thì 02 ngôi mộ chôn trên đất không phải là căn cứ để xác định quyền sử dụng đất là của bà T. Hơn nữa, như đã nhận định ở trên thì gia đình bà T đã bán toàn bộ thửa đất cho ông T2 vào năm 1994 (trong đó có tài sản trên đất là D và Đ). Sau khi hồi công đất và hoa màu cho ông T2 thì gia đình bà T không sử dụng đất từ năm 1994 cho đến nay.
Đối với ông T1 và bà Á tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng mẹ con bà T đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông T2 vào năm 1994, bà T không còn đất ở khu vực này. Do đó, thửa đất này không thuộc quyền sử dụng của bà T, đồng thời ông, bà cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh là Giấy hồi công đất và hoa màu ngày 28/2/1994 (có xác nhận của ông Nguyễn Lục T5, Tổ trưởng tổ dân phố L vào ngày 29/02/1994); Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Bản đồ theo đề án 920 đứng tên ông Nguyễn Văn T1; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9019 của UBND thành phố P đối với ông T1 vào ngày 28/10/2008, nên bà Á và ông T1 không đồng ý giao trả cho bà T quyền sử dụng đất có diện tích 2.623m², thuộc thửa số 3, tờ bản đồ số 112, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
[7] Từ những nhận định trên, xét thấy bà T không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh diện tích đất gia đình bà khai hoang trước năm 1994 là 15000m², thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, tọa lạc tại khu phố L, phường M, là của gia đình bà. Hơn nữa, gia đình bà T từ năm 1994 đến nay không sử dụng đất tranh chấp, không kê khai đăng ký đất qua các thời kỳ theo quy định của Luật đất đai, không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013. Căn cứ quy định pháp luật đất đai qua các thời kỳ và đến nay được quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định. Do đó, xác định bà T không phải là chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản tranh chấp nên việc bà T khởi kiện yêu cầu bà Á, ông T1 và bà V phải giao trả cho bà T diện tích đất 2.623m², thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112 tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình
11
Thuận là không có căn cứ chấp nhận; bà T không sử dụng đất từ năm 1994 đến nay nên bà yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích đất 2.623m² là của bà cũng không có căn cứ chấp nhận.
[8] Bà T cho rằng, một số người làm chứng như ông Võ Thanh S khai xác nhận năm 1994 gia đình bà T hồi công cho ông T2 là thửa đất ven biển; ông Nguyễn T4 khai xác nhận đất của gia đình bà T khai hoang năm 1976, có 2 thửa ngoài biển và trong rừng, chính giữa là cái động (nay là ranh giới tuyến đường H-M); ông Huỳnh Thanh T3 khai xác nhận chính giữa hai thửa đất phía biển và phía rừng là con đường mòn liền kề với động rừng và thửa đất trồng đào của ông G. Xét thấy, lời khai của những người làm chứng không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và không phù hợp với giấy hồi công đất và hoa màu năm 1994 như đã nhận định ở trên, nên không có cơ sở để xem xét.
[9] Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Do đó, không chấp nhận ý kiến của luật sư nguyên đơn và kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[10] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà T không được chấp nhận nên bà phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản theo yêu cầu của bà. Các chi phí này bà T đã nộp đủ tại cấp sơ thẩm.
[11] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu kháng cáo của bà T không được chấp nhận nên bà phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc theo yêu cầu của bà là 9.929.000 đồng (đo đạc 5.229.000đ và xem xét thẩm định 4.700.000 đồng). Các chi phí này bà T đã nộp đủ.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà T không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì bà T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì bà T là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 và khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
12
[2] Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 85; Điều 86; khoản 1, 2, 4 Điều 91; Điều 92; Điều 93; Điều 94; Điều 95; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; Điều 233; Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
- Khoản 9, 24 Điều 3; Điều 97; Điều 100; Điều 166; Điều 202; Điều 203 của Luật Đất đai;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tuyên xử:
[3.1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T về việc buộc bà Nguyễn Thị Á, ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Vũ Mai V trả lại diện tích đất tranh chấp 2.623m², thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận cho bà T.
[3.2] Không công nhận cho bà Lê Thị Minh T được quyền sử dụng diện tích đất 2.623m², thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 112, khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
[3.3] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Bà Lê Thị Minh T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá với tổng số tiền 108.000.000 đồng (Một trăm linh tám triệu đồng). Các chi phí này bà T đã nộp đủ tại cấp sơ thẩm.
[3.4] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Bà Lê Thị Minh T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc là 9.929.000 đồng (Chín triệu chín trăm hai mươi chín nghìn đồng). Bà T đã nộp đủ.
[3.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Minh T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[3.6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà T được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
13
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/6/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Phong Lan |
Bản án số 134/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 134/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Minh T kiện Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị Á về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
