Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 134/2024/HSST

Ngày 28- 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Tùng;
  2. Ông Nguyễn Thoại .

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân-Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/HSST, ngày 09/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024, đối với bị cáo:

Hoàng Phúc G (tên gọi khác: Cu Bạo), sinh ngày 08/11/1998, tại: Tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: Khu phố A, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Nội thất quảng cáo; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng L, sinh năm 1968 và bà Dương Thị T, sinh năm 1966; Vợ: Hoàng Thị L1, sinh năm 1993; Có 01 con sinh năm 2022; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4. Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2024 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại: Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Ông Lê Văn L2, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt phiên tòa.

- Ông Nguyễn Hoài V, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Nguyễn Sỹ P, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Lê Viết T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Ông Cáp Xuân M, sinh năm 1988; địa chỉ: Số B-L, Khu phố C, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Văn C, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Nguyễn Tiến L3, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ B, Khu V, Phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Võ Thị Diệu M1, sinh năm 1989; địa chỉ: Kiệt A-T, P, P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Có mặt tại phiên tòa.

- Ông Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

(1) Ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại Khu phố H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị vào ngày 29/4/2024 theo Đơn trình báo đề ngày 02/5/2024 của ông Nguyễn Hoài V (Ông V). Tuy nhiên, chưa khởi tố bị can do chưa xác định được đối tượng phạm tội.

(1.1) Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, Hoàng Phúc G (Giàu) đi bộ dọc các tuyến đường thuộc địa phận thành phố Đ tìm nhà nào sở hở trong quản lý tài sản để trộm. Khi đi ngang qua nhà ông Lê Văn L2, địa chỉ: Kiệt S - P, khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (ông L2), thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 74K2-5128 (Thuộc quyền chiếm giữ của ông L2) đang dựng ở trước sân Nhà, chìa khóa xe được cắm ở ổ khóa điện, không có người trông giữ nên G lén lút chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Khi vừa rời khỏi Sân nhà ông L2 thì bị phát hiện, G liền điều khiển xe bỏ chạy, ông L2 cùng lực lượng Công an phường Đ truy đuổi vào đến trạm thu phí Q thuộc huyện T thì bắt giữ được và đưa về Trụ sở Công an phường Đ làm việc.

* Kết luận định giá tài sản số: 1561/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Trị giá xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 74K2-5128, số máy (SM): JF18E-5325138, số khung (SK): 8Y-719235, tại thời điểm bị chiếm đoạt, là: 6.500.000 đồng.

Quá trình làm việc tại Công an phường Đ, G khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe mô tô BKS: 74K2-5128 nêu trên và khai nhận thêm các hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị mà G thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5, cụ thể như sau:

(1.2) Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, G đi bộ ngang qua Quán C1, địa chỉ số: 17-Nguyễn Trãi, phát hiện xe mô tô BKS 74B1-08867 trên xe có cắm chìa khóa (Thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Hoài V; địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị- ông V) đang dựng ở vỉa hè, G lén lút chiếm đoạt xe ô tô nêu trên rồi tẩu thoát.

Khoảng 11 giờ ngày 30/4/2024, G đưa xe mô tô chiếm đoạt được đến cầm cố tại ông Trần Văn C, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, được 6.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

* Kết luận định giá tài sản số: 1143/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Trị giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS: 74B1-08867, SM: F45E-0114829, SK: 4500DY544332, tại thời điểm bị chiếm đoạt, là: 6.500.000 đồng.

(1.3) Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/4/2024, G đi bộ ngang qua nhà ông Nguyễn Sỹ P, địa chỉ: Khu phố Đ, phường Đ (ông P), phát hiện xe mô tô BKS: 74H3-8703 (Thuộc quyền sở hữu của ông P) đang dựng ở S, chìa khóa xe được cắm ở ổ khóa và không có người trông giữ, G lén lút chiếm đoạt mô tô rồi điều khiển vào thành phố H. Trên đường đi, G dùng điện thoại di động chụp ảnh chiếc xe đã chiếm đoạt rồi sử dụng tài khoản Facebook của G mang tên “Giàu Hoàng” đăng lên nhóm “Mua bán xe Huế” để rao bán, khoảng 05 phút sau, ông Nguyễn Tiến L3, trú tại phường H, thành phố H (ông L3), trao đổi việc mua bán xe với G thông qua tài khoản facebook tên “Nguyễn L3” của mình và hẹn gặp nhau ở Khu vực Cầu A, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Một lúc sau, ông L3 đến gặp G tại điểm hẹn và đồng ý mua chiếc xe mô tô nói trên, với giá 2.400.000 đồng. Số tiền có được, G đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi mua xe của G, ông L3 bán lại cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.900.000 đồng.

* Kết luận định giá tài sản số: 1235/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Trị giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 74H3-8703, SM: F18E-5067271, SK: 18057Y567166, tại thời điểm bị chiếm đoạt, là: 7.000.000 đồng.

(1.4) Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/05/2024, G đi bộ ngang qua nhà số E- L, khu phố Đ, phường Đ, phát hiện xe mô tô BKS: 74H4-3301 của ông Lê Viết T1, địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ (ông T1) dựng ở sân nhà, chìa khóa xe được cắm ở ổ khóa điện, không có người trông giữ, G liền lén lút chiếm đoạt xe mô tô trên rồi tẩu thoát vào thành phố H. Trên đường đi G sử dụng mạng xã hội để rao bán xe như đã thực hiện vào ngày 30/4/2024 nêu trên. Do không có người mua, G đã giấu xe tại bụi cây ở bên đường rồi trở lại thành phố Đ. Đến sáng ngày hôm sau, bà Võ Thị Diệu M1, địa chỉ: P, P, thành phố H (bà M1), gọi điện thoại cho G hỏi mua chiếc xe mô tô trên. Giàu liền hẹn gặp bà M1 tại khu vực cầu A, P, tỉnh Thừa Thiên Huế rồi Giàu trở lại nơi giấu xe và điều khiển xe đến bán cho bà M1, với giá 1.900.000 đồng. Số tiền có được, G đã tiêu xài cá nhân hết.

* Kết luận định giá tài sản số: 1562/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Trị giá của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS: 74H4 -3301, SM: 5B94-051149, SK: B9409Y051130, tại thời điểm bị chiếm đoạt, là: 5.000.000 đồng.

(1.5) Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/5/2024, G đi bộ ngang qua nhà ông Cáp Xuân M, địa chỉ: Số B-L, Khu phố C, Phường B (ông M), phát hiện xe mô tô BKS: 74H4-3473 (Thuộc quyền sở hữu của ông M) ổ khóa không có chìa khóa nhưng xe vẫn đang ở trạng thái mở khóa điện, đang dựng ở vỉa hè, sát cổng nhà nhà ông M, không có người trông giữ nên G liền lén lút chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, G tháo bỏ biển số xe và sử dụng BKS: 74D1-059.11 Giàu đã nhặt được trước đó gắn vào xe mô tô rồi điều khiển xe đến cất giấu trước bến xe khách thành phố Đ.

Khoảng 17 giờ ngày 21/05/2024, G đến vị trí cất giấu, đưa xe mô tô chiếm đoạt nêu trên đến cầm cố tại ông Nguyễn Thanh V1, trú tại: Số B B, Phường A, Đ (ông V1), được 1.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

* Kết luận định giá tài sản số 1563/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Trị giá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS: 74H4-3473, SM: JC43E-003546, SK: C4309Y030342, tại thời điểm bị chiếm đoạt, là: 5.000.000 đồng.

(2) Vật chứng thu giữ:

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS: 74B1-08867; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS: 74H4-3301; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS: 74H4-3473; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 74H3-8703.

- 01 (Một) BKS: 74D1-059.11 và 01 (Một) BKS: 74K2-5128.

(3) Truy tố: Cáo trạng số 129/CT-VKSĐH ngày 09/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Hoàng Phúc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

(4) Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

(4.1) Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Phúc G, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

(4.2) Về trách nhiệm dân sự:

- Ông V, ông T1, ông M, ông L3 không yêu cầu về dân sự, nên đề nghị không xem xét;

- Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông P: 7.000.000 đồng; ông C: 6.000.000 đồng; ông V1: 1.500.000 đồng.

- Bà M đã nhận lại số tiền: 1.900.000 đồng và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị, không xem xét.

(4.3) Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho ông L2: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airbalde;

- Tịch thu tiêu hủy BKS: 74D1-059.11 và BKS 74K2-5128

(4.4) Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Hoạt động tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, thấy: Các hoạt động tố tụng về điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về trách nhiệm hình sự:

(1) Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Phúc G đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản mà bị cáo đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số 129/CT-VKSĐH ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đó là: Tin báo tội phạm, sơ đồ hiện trường vụ việc, Bản ảnh xác định địa điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, vật chứng thu giữ, lời khai của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên có đủ cơ sở để khẳng định:

Trong các ngày 29, 30/4/2024; 11, 20 và 23/5/2024, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của các chủ sở hữu (Ông V, ông P, ông T1, ông M và ông L2), Hoàng Phúc G đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Chiếm đoạt xe mô tô, nhãn hiệu Honda Lead, BKS: 74B1-08867 của ông V vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, tại quán C1, địa chỉ: Số A- N, Phường A, thành phố Đ; Chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 74H3-8703 của ông P vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 30/4/2024, tại: Kiệt E- L, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ; Chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS: 74H4-3301 của ông T1 vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 11/05/2024, tại: Số E- L, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ; Chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS: 74H4-3473 của ông M vào lúc18 giờ 00 phút ngày 20/5/2024, tại: Số B- L, Khu phố C, Phường B, thành phố Đ và chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 74K2-5128 của ông L2 vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, tại: Kiệt S- P, khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Trị giá tài sản (Xe mô tô) mỗi lần G chiếm đoạt được đều trên 2.000.000 đồng, tổng trị giá tài sản 05 lần Giàu chiếm đoạt, là: 30.000.000 đồng nên hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Phúc G đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự an ninh ở địa phương nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.

(2) Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Phúc G đã 05 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt, trị giá tài sản mỗi lần chiếm đoạt được trên 2.000.000 đồng nên G phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự khai báo với cơ quan chức năng (Công an phường Đ) về hành vi phạm tội vào các ngày 29, 30/4/2024; 11 và 20/5/2024 khi chưa ai phát hiện; Tại phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình trả lại 1.900.000 đồng cho bà M nên phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong khoảng thời gian ngắn nhưng bị cáo đã liên tiếp thực hiện nhiều hành vi phạm tội nên phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết.

Thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành án; cần tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

(3) Về một số vấn đề liên quan trong vụ án: Hành vi nhận cầm cố xe mô tô do G trộm cắp mà có của ông C, ông V1 và hành vi mua xe mô tô do G trộm cắp mà của của ông L3, bà M, thấy: Ông C, ông V1, ông L3 và bà M đều không biết xe mô tô (Nhận cầm cố, mua) do G phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án:

- Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô bị chiếm đoạt cho ông V, ông T1 và ông M là có căn cứ.

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airbalde, thấy: Ông L2 là người chiếm giữ hợp pháp. Nay, Ông yêu cầu được nhận lại, cần trả lại cho ông L2.

- Biển kiểm soát 74D1-05911 không xác định được nguồn gốc nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Biển kiểm soát 74K2-5128 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đang tạm giữ để tiếp tục điều tra nên không xem xét.

[III] Về trách nhiệm dân sự:

- Ông V, ông T1, ông M đã nhận lại xe mô tô bị chiếm đoạt; Ông L2 có nguyện vọng nhận lại xe mô tô (Được chấp nhận như nhận định trên). Ông V, ông T1, ông M và ông L2, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

- Ông P yêu cầu G phải bồi thường 7.000.000 đồng tương ứng giá trị chiếc xe mô tô BKS 74H3-8703 (không thu hồi được), thấy: Yêu cầu của ông P là phù hợp với kết quả định giá nên chấp nhận.

- Ông C yêu cầu G trả lại cho Ông số tiền cầm cố, là: 6.000.000 đồng; ông V1 yêu cầu G trả lại cho Ông số tiền cầm cố, là: 1.500.000 đồng, thấy: Ông C, ông V1 đã giao nộp tài sản nhận cầm (Xe mô tô) cho Cơ quan điều tra, G đồng ý trả lại tiền theo yêu cầu nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông C và ông V1.

- Bà M đã nhận lại 1.900.000 đồng (T2 mua xe) và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

- Ông L3 không yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[IV] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Phúc G (tên gọi khác: Cu B) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Hoàng Phúc G: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, là ngày 24/5/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 468 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc Hoàng Phúc G, phải:

- Bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Sỹ P, số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng);

- Trả lại cho ông Trần Văn C, số tiền: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng);

- Trả lại cho ông Nguyễn Thanh V1, số tiền: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho ông Lê Văn L2: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xanh đen, số máy JF18E-5325138, số khung 8Y-719325.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) biển kiểm soát: 74D1-05911.

Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 9 năm 2024.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

Buộc bị cáo Hoàng Phúc G, phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 725.000 đồng (Bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí sơ thẩm bị cáo phải chịu là: 925.000 đồng (Chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HSST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 134/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Phúc G phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger