|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 134/2024/HS-ST
Ngày 26/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Long
2. Bà Lê Thị Thơm
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2024/HSST, ngày 31 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
-
Mai Đình D, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Đình L, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1961; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Có vợ là Ngô Thị L1, sinh năm 2000 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Đức Đ - Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Trần Văn Đ1 - Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
(Đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 6/5/2024 tại nhà của Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 ở thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an xã Y để bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Mai Đình D, sinh năm 1998. HKTT: thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để D sử dụng cho bản thân.
- Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ ở lòng bàn tay phải của Mai Đình D 01 gói giấy màu nâu bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm vào phong bì thư ký hiệu M.
- T3 tại túi quần phía sau bên phải của T đang mặc 02 tờ tiền polime cùng mệnh giá 100.000 đồng được niêm vào phong bì thư ký hiệu M.
Ngày 06/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T thôn Y, xã Y tại chiếc giày bên phải trong giường ngủ trên tầng 2 của T 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.
Tại Bản Kết luận giám định số 1140 /KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,1730 gam; Là ma túy; Loại ma túy H (Heroine).
Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,2087 gam; Là ma túy; Loại ma túy H (Heroine).
Heroin (Heroine) có tên khoa học là D1 được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tổng khối lượng ma túy Heroine là 0,3817 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Văn T và Mai Đình D khai nhận như sau:
Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKS-YP ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Mai Đình D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và trình bày: Khoảng sáng ngày 6/5/2024 Nguyễn Văn T đi từ nhà đến khu vực vườn hoa thôn Y, xã Y để tìm mua ma túy Heroine về bán kiếm lợi nhuận. Tĩnh mua được 02 gói ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Về đến nhà, T cất 01 gói ma túy vào trong chiếc giày bên phải ở dưới gầm giường ngủ trên tầng 2 và 01 gói ma túy ở trong người. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày 6/5/2024 khi D (hiện đang thuê trọ tại nhà của T) đến gặp T và hỏi: “Chú có ma túy Heroine bán không, bán cho cháu 200.000 đồng”, T bảo: “Có”. Sau đó, D đưa cho T 200.000 đồng, T cầm tiền cất vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi lấy trong người ra 01 gói ma túy đưa cho D. Dần cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đúng lúc này tổ công tác của Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Y kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Đối với gói ma túy cất giấu ở trong phòng, T khai mục đích để bán khi có người mua.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Mai Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn T từ 26 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Mai Đình D2 14 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: ma tuý còn lại sau giám định và 02 (hai) phong bì có que thử nước tiểu của Nguyễn Văn T và Mai Đình D.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Lưu hồ sơ 02 (hai) đĩa DVD về việc hỏi cung các bị cáo T, D.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 6/5/2024, tại nhà của Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 ở thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Y bắt quả tang Nguyễn Văn T đang bán trái phép 0,173 gam ma túy Heroin cho Mai Đình D với giá 200.000 đồng để D sử dụng cho bản thân. Ngoài ra T còn cất giữ 0,2087 gam ma túy Heroin ở phòng của T mục đích bán kiếm lợi nhuận. Tổng khối lượng Tĩnh mua bán và tàng trữ nhằm mục đích bán là 0,3817 gam ma túy Heroin.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo T mua chất ma túy, bán lại cho bị cáo D để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo D mua ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo cũng đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, các bị cáo cũng nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song với nhu cầu và lợi ích của bản thân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật và cố tình vi phạm. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Mai Đình D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Ma túy còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm sử dụng; que thử nước tiểu của các bị cáo là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Lưu hồ sơ 02 (hai) đĩa DVD ghi âm về việc hỏi cung các bị cáo T, D.
[5] Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn T tại khu vực vườn hoa thôn Y. Tuy nhiên T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Mai Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: M (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
- - Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn T, Mai Đình D mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 HKTT: thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (hai) phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu của Nguyễn Văn T và Mai Đình D.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong và biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 20/6/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện Y).
Lưu hồ sơ 02 (hai) đĩa DVD ghi âm về việc hỏi cung các bị cáo T, D.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Mai Đình D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thế Long |
Lê Thị Thơm |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự (tội phạm về ma túy)
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội phạm về ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
