|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày: 13-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Phúc
Ông Ngô Quang Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoàng Thái Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Danh T, sinh ngày 20/9/2000 tại huyện C, Kiên Giang. Nơi thường trú: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh M, sinh năm 1963 và bà Thị T, sinh năm 1964; có vợ là Danh Thị L, sinh năm 2005 và 02 người con, sinh năm 2022 và năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 02/4/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/02/2024, Công an huyện C nhận được nguồn tin tố giác tội phạm nên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Danh T1, thu giữ 01 khẩu súng ổ quay và nhiều viên đạn. Trong quá trình điều tra, Danh T1 thừa nhận hành vi như sau:
Khoảng tháng 5/2023, Danh T1 sử dụng điện thoại di động lên mạng xã hội truy cập vào trang Facebook tên “Cơ khí Miền Nam” thấy có đăng tải hình ảnh khẩu súng ngắn, màu trắng nên nhắn tin hỏi giá thì người bán nhắn tin qua ứng dụng Messenger báo giá khẩu súng và 07 viên đạn là 4.500.000đ, T1 trả giá 4.000.000đ thì người bán đồng ý và yêu cầu T1 cung cấp địa chỉ, số điện thoại nhận hàng, chuyển khoản trước 3.000.000đ tiền đặt cọc. Sau khi T1 cung cấp đầy đủ thông tin và đến một cửa hàng bán điện thoại di động (không nhớ tên) ở gần Trung tâm Y tế phường V trên đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang chuyển 3.000.000đ vào tài khoản người bán súng. Khoảng 2 ngày sau, một nam shipper (không rõ họ tên) đến nhà giao cho T1 01 gói hàng, T1 vào nhà mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 (một) khẩu súng ngắn màu trắng, dạng ổ quay, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen và 07 viên đạn màu vàng xám để rời bên ngoài. Kiểm tra xong, T1 bỏ vào hộp giấy đem cất giữ trong hộc tủ quần áo phòng ngủ của T1, rồi tiếp tục đến cửa hàng bán điện thoại lần trước chuyển 1.000.000đ còn lại cho người bán súng. Sau khi mua được khẩu súng và 07 viên đạn thì T1 đã sử dụng khẩu súng bắn 02 lần, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng tháng 5/2023, T1 lấy khẩu súng lắp 06 viên đạn vào ổ đạn, rồi cất giữ súng trong túi quần Jean bên phải, điều khiển xe máy hiệu Dream (không nhớ biển số) chạy qua cầu C, rồi đi theo đường lộ đan đến khu chòm mả (cách nhà T1 khoảng 6 km) để xe lại và đi bộ vào đường mòn khoảng 200m, thấy không có ai, T1 lấy khẩu súng lên đạn, bóp cò bắn thử 01 viên thì súng nổ. Sau đó, T1 cất khẩu súng trong túi quần Jean, điều khiển xe máy chạy về nhà cất giữ khẩu súng và đạn trong hộc tủ quần áo.
- Lần thứ hai: Vào tối mùng 3 Tết âm lịch 2024, do không có tiền nhậu nên D Tốt đến nhà T1 tìm bà Đ (mẹ nuôi T2) để xin tiền. Khi đến nơi, thấy Danh H (anh ruột T1) đang ngồi nhậu trước cửa nhà nên hỏi H có bà Đ có ở đây không để T2 gặp có chuyện, H yêu cầu T2 ra sau nhà tìm, T2 đi ra sau nhà nhưng không thấy bà Đ nên đi ra xe về. Nhìn từ xa, T2 thấy T1 đứng trước cửa, trên tay cầm khẩu súng chỉ thẳng lên trời, bắn 02 phát, súng nổ. Nghe tiếng súng nổ, T2 không nói gì và bỏ ra xe chạy về nhà. Sau đó, H hỏi T1 khẩu súng là súng gì thì T1 nói là khẩu súng đồ chơi bắn chỉ nghe tiếng nổ không gây sát thương, T1 mua trên mạng về để chơi Tết, nói xong T1 đem khẩu súng đi cất vào tủ trong phòng ngủ.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu trắng, ốp tay cầm màu đen, ổ quay súng bằng kim loại nàu trắng có 06 lỗ chứa đạn, búa đập súng có gắn sợi dây dù màu xám, súng không có số hiệu, ký hiệu;
- - 03 (ba) viên đạn bằng kim loại thân màu vàng, đầu màu xám, đít đạn có cùng ký hiệu "C";
- - 01 (một) hộp giấy màu đen có chữ TB SKY BAILIFF, kích thước 18 cm x 14,5 cm, cao 5,2 cm;
- - 01 (một) khối nhựa chia làm một ngăn màu đen, kích thước 14,5 cm x 13 cm, cao 4,6 cm;
- - 01 (một) khối nhựa chia làm hai ngăn màu đen, kích thước 15,5 cm x 13,5 cm, cao 1,3 cm. Bên trong có 2 tổ hợp nhựa màu cam, kích thước 12 cm x 3,6 cm;
- - 01 (một) bịch nylon rãnh gài viền đỏ, kích thước 7,5 cm x 6 cm, bên trong có 7 khối nhựa màu xanh, kích thước 1,85 cm, đường kính 1 cm, có 1 khối nhựa màu xanh chứa khối nhựa màu cam.
* Tại Kết luận giám định số 1675/KL-KTHS, ngày 15/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C, kết luận:
- - Khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu trắng gửi giám định là súng chế tạo thủ công nòng nhẫn, súng sử dụng để bắn phát một với đạn loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm. Hiện tại súng có đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng trên bắn với đạn cỡ (5,6x15,5)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.
- - 03 (ba) viên đạn, đít đạn cùng ký hiệu C gửi giám định là loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm, thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số súng quân dụng, thể thao như: TOZ8, K55, súng ám sát hình bút, một số súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn phù hợp... và khẩu súng ổ quay nên trên.
Tại bản Cáo trạng số: 46/CT - VKSTKG-P1, ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Danh T1 về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015, sửa đội, bổ sung năm 2017 .
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:
- - Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Danh T1.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Danh T1 phạm tội “Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Danh T1 từ 24 đến 30 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K quản lý, bảo quản, xử lý theo quy định 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu trắng.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 03 (ba) viên đạn, đít đạn cùng ký hiệu C gửi giám định là loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng; 01 (một) hộp giấy màu đen có chữ TB SKY BAILIFF, kích thước 18 cm x 14,5 cm, cao 5,2 cm; 01 (một) khối nhựa chia làm một ngăn màu đen, kích thước 14,5 cm x 13 cm, cao 4,6 cm; 01 (một) khối nhựa chia làm hai ngăn màu đen, kích thước 15,5 cm x 13,5 cm, cao 1,3 cm, bên trong có 2 tổ hợp nhựa màu cam, kích thước 12 cm x 3,6 cm); 01 (một) bịch nylon rãnh gài viền đỏ, kích thước 7,5 cm x 6 cm, bên trong có 7 khối nhựa màu xanh, kích thước 1,85 cm, đường kính 1 cm, có 1 khối nhựa màu xanh chứa khối nhựa màu cam.
* Bị cáo Danh T1 có ý kiến thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Danh T1 khai nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: Tháng 5 năm 2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Danh T1 mua một khẩu súng và 07 viên đạn giá 4.000.000đ đem về nhà cất giữ, sau đó đem ra bắn 02 lần hết 03 viên đạn, rồi tiếp tục cất giữ súng và số đạn còn lại đến khi bị phát hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo giai đoạn trình điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định... Từ đó có cơ sở để kết luận hành vi bị cáo Danh T1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước. Hành vi phạm tội của bị cáo tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe người khác và gây ra các hậu quả xấu khác cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị xử lý theo quy định.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo sử dụng súng trái phép 02 lần nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 02 con còn nhỏ, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ phạm tội, để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định xử lý các vật chứng liên quan đến vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nêu trên.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Danh T1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Danh T1 phạm tội “Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Danh T1 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 02/4/2024).
- Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- * Tịch thu, giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu trắng, ốp tay cầm màu đen, ổ quay súng bằng kim loại màu trắng có 06 lỗ chứa đạn (Cơ quan điều tra Công an tỉnh K đã giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K theo biên bản giao nhận ngày 13/8/2024).
- * Tịch thu tiêu hủy:
- - 03 (ba) viên đạn thân màu vàng, đầu màu xám, đít đạn cùng ký hiệu C được kết luận giám định là loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng;
- - 01 (một) túi niêm phong số 2112206, ngày thu mẫu 28/02/2024, có chữ ký Lý Tiến T3, Danh T1, Danh H1, Danh Thị L có đóng dấu Công an xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang, bên trong túi chứa:
- + 01 (một) hộp giấy màu đen có chữ TB SKY BAILIFF, kích thước 18 cm x 14,5 cm, cao 5,2 cm;
- + 01 (một) khối nhựa chia làm một ngăn màu đen, kích thước 14,5cm x 13 cm, cao 4,6 cm;
- + 01 (một) khối nhựa chia làm hai ngăn màu đen, kích thước 15,5 cm x 13,5 cm, cao 1,3 cm. Bên trong có 2 tổ hợp nhựa màu cam, kích thước 12 cm x 3,6 cm);
- + 01 (một) bịch nylon rãnh gài viền đỏ, kích thước 7,5 cm x 6 cm, bên trong có 7 khối nhựa màu xanh, kích thước 1,85 cm, đường kính 1 cm, có 1 khối nhựa màu xanh chứa khối nhựa màu cam.
(Các vật chứng trên, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số 37/QĐ-VKS-P1 ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 11/9/2024).
- Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Danh T1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh T mua súng...
