|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 134/2024/HSST Ngày 17 – 10 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Liên – Giáo viên nghỉ hưu phường Hòa Mạc;
- Ông Ngô Quốc Vũ – Cán bộ hưu trí phường Hòa Mạc;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý– Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 135/2024/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với:
1/ Bị cáo: Đỗ Xuân B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/3/2007, nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên, chỗ ở: Xóm F, thôn D, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Đỗ Trung H, sinh năm 1978 và bà Trần Thị C, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Đỗ Trung H, sinh năm 1978 và bà Trần Thị C, sinh năm 1975, cùng nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.
2/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Phạm Tuấn K, sinh ngày 05/3/2006; vắng mặt; có người đại diện hợp pháp là bà Mai Thị H1, sinh năm 1984, cùng nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Anh Dương Kim N1, sinh ngày 12/12/2006, nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam, chỗ ở: P403D1, khu tập thể T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; vắng mặt; có người đại diện hợp pháp là bà Bùi Thị N2, sinh năm 1986, cùng nơi cư trú: Thôn L, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
(Hiện tại Phạm Tuấn K và Dương Kim N1 đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H về một tội phạm khác).
- Anh Trần Anh T, sinh năm 2005, nơi cư trú: Tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1979, nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 2003, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: khu đô thị H, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
3/ Người làm chứng: Cháu Nguyễn Hương L1, sinh ngày 07/5/2007, người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978 và bà Trần Thị L, sinh năm 1982; L1 và bà L có mặt, ông T2 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 20 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực trước cửa quán bán nước của chị Lương Thị H2 thuộc Tổ dân phố V, phường C, thị xã D. Tổ công tác Công an phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn tổ dân phố V, phường C đã phát hiện Dương Kim N1, sinh ngày 12/12/2006, cư trú tại thôn L, xã C, thị xã D và Trần Anh T, sinh ngày 04/4/2005, cư trú tại tổ dân phố C, phường H, thị xã D có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên tiến hành kiểm tra lập biên bản đối với N1, T và thu giữ các vật chứng có liên quan, gồm:
- T3 trong túi áo khoác bên phải của N1 đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng, đầu túi có viền màu đỏ, kích thước (7x4)cm, bên trong có hỗn hợp thực vật được cắt nhỏ, sấy khô nghi là ma túy dạng cỏ Mỹ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “MT01”;
- Thu dưới mặt đất tại vị trí ghế ngồi sát người Tuấn 01 (một) đầu mẩu thuốc lá đã sử dụng có chiều dài khoảng 06cm, in dòng chữ “Thăng Long” màu xanh, đầu mẩu thuốc màu vàng. T khai nhận là dùng để sử dụng ma túy dạng cỏ Mỹ - T, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “MT02";
- T3 tại vị trí bàn nơi T và N1 ngồi sử dụng ma túy 01 (một) chiếc điếu cày bằng tre hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 05cm, miệng điếu cày được bọc bằng nhựa màu vàng, thân điếu được quấn một lớp băng dính màu xanh, N1 khai để sử dụng ma túy dạng cỏ Mỹ;
- Thu trên mặt bàn nơi T và N1 ngồi sử dụng ma túy 01 (một) chiếc bật lửa màu tím, kích thước (8x2)cm, phía đầu được bọc lớp kim loại màu trắng, có in dòng chữ “H-VIET”, trên thân có bọc lớp nhựa màu xanh hình trụ tròn, kích thước (7x2)cm;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn đỏ đen, BKS 90B1 – 652.60, số máy JF46E-4279804, số khung: LHJF4604DY368836, đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 750/KL – KTHS ngày 02/022024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
- + Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu các sợ màu vàng nâu, ký hiệu MT01 gửi giám định; khối lượng mẫu: 0,270 gam;
- + MDMB-4en-PINACA được tìm thấy ở dạng vết (rất nhỏ) dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng, khối lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu gửi giám định.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Dương Kim N1, Trần Anh T khai báo chất ma túy trên do N1 và T mua của Đỗ Xuân B tại phường Y, thị xã D, cụ thể: Khoảng 06 giờ ngày 29/12/2023, khi N1 đang ngồi chơi game ở quán G ở gần khu chợ mới thuộc phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam thì T đến quán game chơi và ngồi cạnh N1. Một lúc sau, T nói với N1 “Anh vừa về nhà lấy tiền, đây là tiền đi lễ của anh, anh với mày lên chỗ thằng B lấy một gói”, N1 đồng ý và nói “Ok”. Sau đó, N1 và T đi ra ngoài thì gặp anh Đỗ Đức T4 SN 2003, cư trú tại Khu đô thị H, thuộc phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, N1 nói “Anh cho em mượn chìa khóa xe để em đi ra đây một tí”. Anh T4 đồng ý và đưa chìa khóa xe mô tô Honda Airblade màu đỏ trắng, BKS 90B1 - 652.60 của mình cho N1. N1 điều khiển xe mô tô BKS 90B1 - 652.60 chở T ngồi phía sau đi lên phòng trọ của Đỗ Xuân B đang thuê ở tổ dân phố B, phường Y, thị xã D. Khi đi đến đoạn đường gần phòng trọ của B thì N1 dừng xe và đứng trên đường đợi, T xuống xe rồi đi bộ vào cửa phòng trọ của B. Khi gặp B, T đưa cho B số tiền 100.000 đồng gồm các tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 2.000 đồng và 5.000 đồng. B cầm tiền T đưa rồi đưa cho T 01 túi nilon, loại túi có kẹp zip, bên trong chứa ma túy, thường được gọi là ma túy cỏ Tobaco. Sau khi mua được ma túy, N1 chở T đi đến quán nước thuộc tổ dân phố V, phường C, thị xã D thì cả 02 vào quán nước ngồi. T gọi 02 cốc nước để uống, sau đó T xin của người đàn ông không xác định được là ai, ở đâu đang ngồi ở bàn bên cạnh 01 điếu thuốc lá Thăng Long, T lấy một phần sợi thuốc bên trong điếu thuốc ra vứt đi, rồi lấy một lượng nhỏ ma túy trong gói cỏ Tobaco vừa mua được cho vào điếu thuốc, dùng bật lửa châm hút điếu thuốc đó và để gói cỏ Tobaco trên mặt bàn T và N1 đang ngồi. N1 lấy 01 ít ma túy cỏ T5 ra cho vào nõ của chiếc điếu cày để dưới gầm bàn N1 đang ngồi và lấy bật lửa trên bàn của quán nước châm hút. Số Tobaco còn lại, N1 cất vào túi áo khoác phía trước bên phải của mình để cất giấu đem về sử dụng. Sau khi hút xong, N1 và T đang phê thuốc thì bị tổ công tác Công an phường C kiểm tra, phát hiện, thu giữ các vật chứng có liên quan, đưa N1 và T về trụ sở làm việc.
Quá trình đấu tranh, Đỗ Xuân B khai nhận hành vi bán ma túy cho Trần Anh T sáng ngày 29/12/2023 tại phòng trọ của B thuộc TDP B, phường Y.
Mở rộng điều tra vụ án, còn xác định được, ngoài lần bái trái phép chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA cho Trần Anh T vào khoảng 09 giờ ngày 29/12/2023 thì Đỗ Xuân B còn 04 lần bán trái phép chất ma túy cho Phạm Tuấn K sinh năm 2006, cư trú tại TDP T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam và Dương Kim N1, cụ thể như sau:
- Khoảng 20 giờ một ngày giữa tháng 11/2023, cách ngày K, T và N1 bị bắt (ngày 29/12/2023) khoảng hơn 01 tháng, tại khu vực cổng phòng trọ của B, B đã bán cho Phạm Tuấn K, sinh ngày 05/3/2006, cư trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam 01 gói ma túy, loại MDMB-4en-PINACA với giá 100.000 đồng;
- Khoảng 02 tuần sau lần bán ma túy cho K trên, vào khoảng 17 giờ hôm đó, tại khu vực cổng phòng trọ của B, B đã bán cho Phạm Tuấn K 01 gói ma túy, loại MDMB-4en-PINACA với giá 100.000 đồng;
- Trước ngày 29/12/2023 khoảng 20 ngày, vào buổi chiều, tại khu vực trước cửa phòng trọ của B, B đã bán cho Dương Kim N1 01 gói ma túy, loại MDMB-4en-PINACA với giá 100.000 đồng;
- Trước ngày 29/12/2023 khoảng 10 ngày, vào buổi chiều, tại khu vực trước cửa phòng trọ của B, B đã bán cho Dương Kim N1 01 gói ma túy, loại MDMB-4en-PINACA với giá 100.000 đồng;
Toàn bộ số ma túy mua được của Đỗ Xuân B nêu trên, Dương Kim N1 và Phạm Tuấn K khai báo đã sử dụng hết.
Quá trình điều tra, Đỗ Xuân B đã nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và khai nhận: Nguồn gốc số ma túy mà B bán cho T, N1, K và những người khác là do trong khoảng thời gian thuê trọ tại tổ dân phố B, phường Y, thị xã D của gia đình chị Đoàn Thị H3, sinh năm 1984 từ tháng 5/2023 đến tháng 02/2024, B đã nhiều lần mua ma túy, loại cỏ Tobaco của một người không quen biết trên mạng xã hội Facebook. Mỗi lần B mua của người này 01 gói cỏ Tobaco khoảng 20 gam với giá 500.000 đồng. Sau đó, B chia nhỏ gói ma túy này làm 15 - 20 gói nhỏ được bọc bằng túi nilon, loại túi có kẹp zip và bán cho những người mua với giá 100.000 đồng/túi để kiếm lời. Ngoài những lần bán ma túy cho T, N1 và K, B còn bán cho nhiều người khác nữa nhưng B không nhớ tên và địa chỉ của những người này ở đâu.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Xuân B tại thôn D, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật gì;
Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã xác định được chiếc xe mô tô BKS 90B1 – 652.60 là tài sản hợp pháp của anh anh Nguyễn Thanh P sinh năm 1979, cư trú tại tổ dân phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Anh P cho anh Đỗ Đức T4 sinh năm, cư trú tại Khu đô thị H, thuộc phường H, thị xã D là cháu gọi anh P bằng cậu mượn làm phương tiện đi lại. Sáng ngày 29/12/2024, khi N1 hỏi anh T4 mượn xe để đi công việc nên anh T4 đồng ý cho Ngọc M, T4 không biết N1 mượn xe để đi mua ma túy. Do đó, cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho anh P chiếc xe mô tô BKS BKS 90B1 – 652.60.
Cáo trạng số 120/CT – VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân B mức án từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm, xử lý vật chứng, truy thu khoản tiền bị cáo chiếm hưởng trái phép và tuyên án phí đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo Đỗ Xuân B, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa của bị cáo không tranh luận gì với bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo; những người tham gia tố tụng có mặt khác không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian thuê trọ tại tổ dân phố B, phường Y, thị xã D của gia đình chị Đoàn Thị H3, sinh năm 1984 (từ tháng 5/2023 đến tháng 02/2024), Đỗ Xuân B nhiều lần mua ma túy, loại MDMB-4en-PINACA về chia nhỏ ra bán cho người khác để kiếm lời.
Vào khoảng 09 giờ ngày 29/12/2023, tại khu vực trước cửa phòng trọ của B, B đã bán cho Trần Anh T 01 gói ma túy, loại MDMB-4en-PINACA với giá 100.000 đồng, khối lượng ma túy mà cơ quan điều tra thu giữ được sau khi Trần Anh T và Dương Kim N1 đã sử dụng là 0,270g, loại MDMB-4en-PINACA.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chứng minh được trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến tháng 12/2023, B còn 04 lần bán ma túy cho Phạm Tuấn K, Dương Kim N1 và Trần Anh T, mỗi lần 01 gói với giá 100.000 đồng/gói;
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần mục đích để kiếm lời cho bản thân của Đỗ Xuân B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 120/CT – VKS – DT ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Xuân B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; trong giai đoạn điều tra vụ án, gia đình bị cáo đã xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi, 09 tháng, 04 ngày nên còn được áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ nhận định trên cho thấy mặc dù bị cáo là người dưới 18 tuổi, có nhân thân tốt. Song hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy, sau khi xem xét mọi mặt HĐXX xét thấy cần thiết phải cho bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục thành công dân tốt mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người chưa thành niên nên không thuộc trường hợp áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[5] Về các hành vi khác trong vụ án:
Đối với anh Nguyễn Đức T1 là người đã cho Dương Kim N1 mượn xe mô tô BKS 90B1 – 652.60, quá trình điều tra xác định anh T1 không biết việc N1 mượn xe của mình để chở Trần Anh T đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với anh T1 là có cơ sở.
Đối với Nguyễn Thị Hương L1, sinh ngày 07/5/2007, cư trú tại tổ dân phố N, phường T, thị xã D và Vũ Thị Thanh T6, sinh ngày 04/9/2008, cư trú tại tổ dân phố V, phường Y, thị xã D có mặt tại phòng trọ của B khi Bắc bán ma túy cho T, N1 và K. Tuy nhiên, L1 và T6 không biết Bắc bán ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với L1 và T6 là có cơ sở.
Đối với chị Đoàn Thị H3 là người cho B thuê phòng trọ để ở, chị H3 không biết việc B đã nhiều bán ma túy cho người khác để kiếm lời tại phòng trọ nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với chị H3 là phù hợp quy định của pháp luật
Đối với Phạm Tuấn K là người có hành vi nhiều lần mua ma túy của Đỗ Xuân B về sử dụng và đã sử dụng hết số ma túy mua được của B, nên Công an thị xã D căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K với mức phạt tiền là 625.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Trần Anh T và Dương Kim N1 có hành vi rủ nhau đi đến phòng trọ của Đỗ Xuân B mua 01 gói ma túy, loại MDMB-4en-PINACA với giá 100.000 đồng rồi đem về quán nước ở tổ dân phố V, phường C, thị xã D cùng nhau sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an phường C, thị xã D phát hiện, đã thu giữ số ma túy các đối tượng sau khi sử dụng còn lại có khối lượng 0,270gam MDMB-4en-PINACA. Do vậy, hành vi cất giữ trái phép chất ma túy của Dương Kim N1 và Trần Anh T không đủ căn cứ để khởi tố, xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Công an thị xã D đã căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T với mức tiền phạt là 1.250.000 đồng; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K với mức phạt tiền là 625.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người quen qua mạng đã bán ma túy cho Đỗ Xuân B, quá trình điều tra và tại phiên tòa B khai không rõ nhân thân, lai lịch người này ở đâu, chỉ có lời khai của B do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ về người này là có cơ sở.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 90B1 – 652.60 đã giải quyết trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Đối với: 01 chiếc bật lửa ga đã cũ, màu tím; 01 chiếc điếu cày đã cũ bằng tre; 01 mẩu điếu thuốc lá dài 06cm có in chữ T. Quá trình điều tra xác định đây là công cụ mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để sử dụng chất ma túy (cỏ Mỹ) hiện không còn giá trị sử dụng nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
[7] Truy thu số tiền 500.000 đồng là tiền bị cáo Đỗ Xuân B chiếm hưởng thông qua việc bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Dương Kim N1, Trần Anh T, Phạm Tuấn K để sung ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
-
Về hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2024.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa ga đã cũ, màu tím; 01 chiếc điếu cày đã cũ bằng tre; 01 mẩu điếu thuốc lá dài 06cm có in chữ T.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 02/10/2024).
- Truy thu của bị cáo Đỗ Xuân B số tiền 500.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đỗ Xuân B phải nộp 200.000 đồng.
- Báo cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người đại diện theo pháp luật của bị cáo; người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mạnh Xuân Hải |
Bản án số 134/2024/HSST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 134/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐỖ XUÂN B PHẠM TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
