Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

--------------------

Bản án số: 134/2024/HSST

Ngày: 09/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Long
  • 2. Ông Nguyễn Văn Tuất
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bạc Cầm T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2001, tại Sơn La; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: bản C (hay P), xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Bạc Cầm T1 (sinh năm: 1982); Họ tên mẹ: Lò Thị V (Sinh năm: 1983), Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Bản án số 87/2018/HSST ngày 13/4/2018 Tòa án nhân huyện T, tỉnh Sơn La xử phạt 10 tháng tù về Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2018 (đã được xóa án tích).

Ngày 07/3/2024 Bạc Cầm T có hành vi Cướp giật tài sản tại thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện V khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kể từ ngày 14/3/2024 về tội Cướp giật tài sản thep quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Cầm Văn D; Sinh năm: 2006; Nơi thường trú: Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt tại phiên tòa)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nước thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG

Ngày 21/10/2023 anh Cầm Văn D (sinh năm: 2006, NKTT: Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: số C đường P, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) mua 01 xe moto nhãn hiệu Honda Wave và được cấp biển kiểm soát 26C1-325.26. Anh D chưa lắp biển kiểm soát được cấp vào xe và mang xe xuống Hà Nội để đi làm.

Khoảng 6 giờ 00 phút ngày 01/11/2023 sau khi tan giờ làm việc D điều khiển xe moto Honda Wave của mình đi về phòng trọ ở số C đường P, xã T, huyện T, Hà Nội. Về khu trọ anh D để xe ở gần cầu thang lên gác xép và đi về phòng ngủ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Bạc Cầm T (ở cùng khu trọ với anh D) thấy anh D vẫn đang ngủ và thấy chiếc xe mô tô (nhãn hiệu Wave màu xám xi măng, chưa gắn biển kiểm soát) của anh D dựng ở khu vực cầu thang nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Thoáng liền tiến lại chiếc xe và dùng tay rút khớp nối dây điện dẫn đến ổ khóa điện ở vị trí sau giữa yếm phải của xe mô tô và càng xe bên phải phía trước rồi nổ máy và điều khiển xe đi về Sơn La. Khi đi đến thành phố H, tỉnh Hòa Bình thì T gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề sửa chữa khóa ở ven đường và thuê người này đánh cho T 01 chiếc chìa khóa để mở ổ khóa xe mô tô Thoáng đã trộm cắp được của anh D với giá 20.000 đồng. (Thoáng không nhớ được địa điểm đánh chìa khóa).

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày anh D phát hiện mất xe và tìm kiếm thì được anh Vũ Cao C1 (sinh năm: 1983, NKTT: Tổ E phường L, quận H, thành phố Hà Nội) thông báo có nhìn thấy Bạc Cầm T lấy xe mô tô của anh đi. Anh D đã điện thoại cho T nhưng không liên lạc được nên anh đã đến Cơ quan Công an xã T trình báo.

Ngày 04/01/2024 anh Cầm Văn D đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện T: 02 chiếc chìa khóa xe mô tô, trên phần nhựa màu đen có in chữ Honda, phần chìa có khắc chữ số “P138”.

Quá trình xác minh Công an xã T thu giữ của anh Lưu Viết T2: 01 USB có chứa hình ảnh trích xuất từ camera liên quan đến vụ việc.

Đến ngày 18/01/2024 khi Bạc Cầm T đang điều khiển xe trộm cắp được của anh D đi trên đường Đ, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La thì bị Công an phường T, thành phố S kiểm tra hành chính. Bị kiểm tra T để lại xe và bỏ đi nên Cơ quan công an đã tạm giữ:

  • - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu xám bạc, số khung RLHJA3938PY077193, số máy JA70E-0106270, xe không gắn biển kiểm soát, đã qua sử dụng, kiểm tra cốp xe không có đồ vật tài sản gì.
  • - 01 chiếc chìa khóa xe mô tô có vỏ nhựa màu đen, thân chìa khóa bằng kim loại màu trắng. Trên vỏ nhựa có chữ “Honda” trên thân chìa có in dòng chữ “Luu My” ở hai mặt khóa.

Sau khi phát hiện chiếc xe là tang vật vụ trộm cắp nên Công an phường T, T chiếc xe mô tô và chiếc chìa khóa cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện T.

Ngày 24/11/2023, Cơ quan Cơ quan CSĐT- Công an huyện T đã yêu cầu định giá tài sản đối chiếc xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 26C1 - 325.26.

Bản kết luận định giá tài sản số 177/KL-HDĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26C1-325.26, đã qua sử dụng có giá trị 20.517.600 đồng.

Ngày 27/02/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có công văn số 754 trưng cầu giám định 03 chiếc chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 26C1-325.26.

Tại Bản kết luận giám định số 1453/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận:

Chìa khóa có vỏ nhựa màu đen, có chữ “Honda”, thân chìa bằng kim loại có dòng chữ “Luu M” ở hai mặt (ký hiệu A) có đặc điểm khác với đặc điểm của 02 chìa khóa xe mô tô, trên phần nhựa màu đen có in chữ “Honda”, phần chìa có chữ, số “P138” (ký hiệu M1, M2) (ảnh 7, 8, 9, 10 trong bản ảnh giám định).

Ngày 01/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T có công văn số 733 trưng cầu giám định đối với 01 USB bên trong chứa 01 đoạn video ghi lại nội dung vụ việc.

Tại Bản Kết luận giám định số 1709 ngày 06/3/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

Tại cơ quan điều tra Bạc Cầm T khai nhận về hành vi trộm cắp như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với tài liệu do cơ quan điều tra thu thập, được.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26C1-325.26, đã qua sử dụng và 02 chiếc chìa khóa xe mô tô, trên phần nhựa màu đen có in chữ Honda, phần chìa có khắc chữ số “P138” quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Cầm Văn D, nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản cho anh D. Anh D nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với 01 chiếc chìa khóa xe mô tô có vỏ nhựa màu đen, thân chìa khóa bằng kim loại màu trắng. Trên vỏ nhựa có chữ “Honda” trên thân chìa có in dòng chữ “Luu My” ở hai mặt khóa thu giữ của Bạc Cầm T, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKSTT ngày 07/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bạc Cầm T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bạc Cầm T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng, có thái độ ăn năn hối cải và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất.

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là anh Cầm Văn D, bà Nguyễn Thị L có ý kiến nhất trí với nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân xấu, lười lao đông, coi thường pháp luật và xử phạt bị cáo Bạc Cầm T nghiêm khắc để răn đe và giáo dục.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; xử phạt bị cáo Bạc Cầm T mức án từ 18 đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Phần bồi thường dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 01 chiếc chìa khóa xe mô tô có vỏ nhựa màu, thân chìa khóa bằng kim loại màu trắng. Trên vỏ nhựa có chữ “Honda” trên thân chìa có in dòng chữ “Luu My” ở hai mặt chìa khóa và lưu hồ sơ vụ án 01 USB trích xuất từ camera.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để khẳng định Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/11/2023, tại khu phòng trọ ở số C, đường P, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Bạc Cầm T đã trộm cắp tài sản của anh Cầm Văn D là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 26C1 – 325.26 có giá trị 20.517.600 đồng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, không có nơi cư trú ổn định đã từng nhận được sự giáo dục của pháp luật, lẽ ra phải lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, nhưng vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

  1. [3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì về bồi thường, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  1. [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. [5] Bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
  3. [6] Xử lý vật chứng: Đối 01 chiếc chìa khóa xe mô tô có vỏ nhựa màu đen có chữ “Honda” thân chìa có in dòng chữ “Luu My” ở hai mặt đây là tài sản mà bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  4. [7] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bạc Cầm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015;

    Áp dụng: Các Điều 106;135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;

    Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí ban hành kèm theo.

  3. Xử phạt: Bị cáo Bạc Cầm T 01 (một) năm 08 (tám) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Về bồi thường dân sự: không xét.

  5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô có vỏ nhựa màu đen có chữ “Honda” thân chìa có in dòng chữ “Luu My” ở hai mặt.

    Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 5 năm 2024.

  6. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Bị cáo Bạc Cầm T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội ;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - Bị Cáo
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 134/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/11/2023, tại khu phòng trọ ở số C, đường P, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Bạc Cầm T đã trộm cắp tài sản của anh Cầm Văn D là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 26C1 – 325.26 có giá trị 20.517.600 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger