Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thiện.
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vương Triều - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HS ngày 04/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Hoàng L, sinh năm 1986, tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: 219A/1, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và Lê Thị Phù D1; vợ tên: Tống Thị H, có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 10/8/2023 bị tạm giam đến đến nay; có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH Một thành viên C2. Địa chỉ: A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Ông Lưu Hy V, chức vụ: giám đốc - là người đại diện theo pháp luật; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Anh T, địa chỉ liên lạc: 173/388, Điểu X, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Văn C, sinh năm 2001; Nơi đăng ký HKTT: Số A, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: Đường D, khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người làm chứng: Bùi Văn H1, sinh năm: 1989; Đặng Đình D2, sinh năm: 1990; Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm: 1989; Lê Thị T1, sinh năm: 1974; Nguyễn Thị N, sinh năm: 1996; Trần Văn N1, sinh năm: 1993; Đậu Hoài N2, sinh năm: 1983; Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1979; Lê Thị H3, sinh năm: 1983; Bùi Thị H4, sinh năm: 1991; Trần Thị Y, sinh năm: 1993; Phạm Thị H5, sinh năm: 1994; Hà Vũ Y1, sinh năm: 1995; Tứ Thanh H6, sinh năm: 1982; Phạm Thị H7, sinh năm: 1998; Nguyễn Đức T2, sinh năm: 1975; Phan Văn P, sinh năm: 1992; Quách Nhiên N3, sinh năm: 1977; Lê Thị Cẩm T3, sinh năm: 1994.

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/5/2020, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C2 Chi nhánh B, địa chỉ 2 đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương ký hợp đồng lao động với Nguyễn Hữu N4, chức vụ của N4 là nhân viên điều phối đơn hàng, sau đó được lên chức vụ mới quản lý quận gồm quản lý tài sản, quản lý nhân sự, quản lý tiền, số lượng đơn hàng nhân viên giao cho khách trong ngày và có khi trực tiếp đi giao hàng. Đến ngày 23/5/2020, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C2 Chi nhánh B tiếp tục ký hợp đồng lao động với Đỗ Hoàng L, chức vụ của L là nhân viên kho bưu cục, chịu trách nhiệm số lượng hàng hóa, phân loại hàng hóa lưu trữ tại kho, làm việc tại địa chỉ đường N, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi có đơn hàng N4 phân công L trực tiếp đi giao cho khách và L có nhờ nhân viên kho bưu cục là Nguyễn Văn C đi giao rồi lấy tiền về đưa lại cho N4 để N4 bàn giao lại cho Công ty C2 trong ngày, xác nhận đã giao xong trên hệ thống E3.

Quá trình làm việc tại Công ty C2, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên N4 nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền. Để thực hiện ý định, N4 đi giao bưu phẩm, nhận tiền của khách hàng nhưng không thực hiện xác nhận trên hệ thống E3 của Công ty để chiếm đoạt tiền đơn hàng, đồng thời N4 bàn bạc với L chiếm đoạt tiền của công ty C2. N4 hướng dẫn L ký chèn đơn trên hệ thống E3 để L chiếm đoạt tiền, thông qua việc L giao hàng cho nhiều khách thì N4 dễ dàng chiếm đoạt tiền, tổng số tiền N4 trực tiếp chiếm đoạt là hơn 80.000.000 đồng, tổng số L trực tiếp chiếm đoạt là 54.950.044 đồng.

Quá trình điều tra, xác định Đỗ Hoàng L giao hàng nhưng không ký nhận, ký chèn 34 đơn hàng để chiếm đoạt tiền, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 27/7/2020, L giao đơn hàng là vải cho khách hàng tên Trần T4 trị giá 341.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ hai: Ngày 01/8/2020, L giao đơn hàng là mỹ phẩm cho khách hàng tên “Nguyễn P1” trị giá 3.472.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ ba: Ngày 10/8/2020, L giao đơn hàng là túi cho khách hàng tên Hà N5 trị giá 1.810.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ tư: Ngày 18/8/2020, L giao đơn hàng là 06 chai dầu xả, 02 chai sửa tắm, 10 cái khăn cho khách hàng tên Vy N6 trị giá 426.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ năm: Ngày 19/8/2020, L giao đơn hàng là túi cho khách hàng tên Hà N5 trị giá 2.520.000 đồng; L giao đơn hàng (không rõ loại hàng) cho khách tên Nguyễn H8 trị giá 220.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt lần này là 2.740.000 đồng.

Lần thứ sáu: Ngày 20/8/2020, L giao đơn hàng là gốm sứ cho khách hàng tên “Nga L1” trị giá 1.538.000 đồng; L giao đơn hàng bếp ga cho khách hàng tên C1 trị giá 1.850.000 đồng; L giao đơn hàng là quần áo cho khách hàng tên Kim T5 trị giá 1.417.000 đồng; L giao đơn hàng (không rõ loại hàng) cho khách hàng tên “Ngô sao bay” trị giá 135.000 đồng; L giao hàng (không rõ loại hàng) cho khách hàng tên “Hoa Huỳnh Kim” trị giá 45.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2. Tổng số tiền chiếm đoạt là 4.985.000 đồng.

Lần thứ bảy: Ngày 21/8/2020, L giao hàng là mỹ phẩm cho khách hàng tên Ngọc Q trị giá 1.500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ tám: Ngày 22/8/2020, L giao hàng là thang nhôm rút chữ A cho khách hàng tên “Lê Thuận” trị giá 1.909.000 đồng; L giao hàng là âm ly cho khách hàng tên Huỳnh Hữu L2 trị giá 2.449.000 đồng; L giao hàng là tranh cho khách hàng tên T6 trị giá 985.000 đồng; L giao hàng là chiếu cao su non cho khách hàng là Lê H9 trị giá 1.030.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2. Tổng số tiền chiếm đoạt là 6.373.000 đồng.

Lần thứ chín: Ngày 23/8/2020, L giao hàng phong thủy cho khách hàng tên “Tâm Hoàng” trị giá 1.726.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ mười: Ngày 24/8/2020, L giao hàng là tranh cho khách hàng tên C1 trị giá 1.500.00 đồng; L giao hàng là loa Karaoke cho khách hàng tên Huỳnh Thanh T7 trị giá 1.300.000 đồng; L giao hàng là áo cho khách hàng tên Mỹ Lộc trị giá 1.260.000 đồng; L giao hàng là S bộ P2 Plus gold loại 900g cho khách hàng tên Thanh T8 trị giá 1.949.000 đồng; L giao hàng (không rõ loại hàng) cho khách tên Duy K trị giá 1.499.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2. Tổng số tiền chiếm đoạt là 7.508.000 đồng.

Lần thứ mười một: Ngày 25/8/2020, L giao hàng (không rõ loại hàng) cho khách hàng tên Như A trị giá 2.273.000 đồng; L giao hàng là bỉm cho khách hàng tên H2 trị giá 744.090 đồng; L giao hàng là ba chảo Sunhouse, 01 bếp nướng điện từ, 01 bộ TH cho khách hàng tên Hoàng T9 trị giá 1.212.000 đồng; L giao hàng là Hoa lan cho khách hàng tên Bập trị giá 1.160.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2. Tổng số tiền chiếm đoạt là 5.389.090 đồng.

Lần thứ mười hai: Ngày 26/8/2020, L giao hàng là 01 bộ chăn ga gối lụa cho khách hàng tên Hoàng L3 trị giá 1.847.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Lần thứ mười ba: Ngày 27/8/2020, L giao hàng là Tivi LG 32 inch HD cho khách hàng tên Thanh Huynh trị giá 3.981.741 đồng; L giao hàng là khẩu trang cho khách hàng tên Đ1 trị giá 1.350.000 đồng; L giao hàng (không rõ loại hàng) cho khách hàng tên Cô T10 trị giá 100.000 đồng; L giao hàng (không rõ loại hàng) cho khách hàng tên Nguyễn Văn Q1 trị giá 473.213 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2. Tổng số tiền chiếm đoạt là 5.904.954 đồng.

Lần thứ mười bốn: Ngày 28/8/2020, L giao hàng là kem, mỹ phẩm dưỡng da cho khách hàng tên Lê T11 trị giá 3.850.000 đồng; L giao hàng là mỹ phẩm cho khách hàng tên “Nguyễn P1” trị giá 6.010.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2. Tổng số tiền chiếm đoạt là 9.860.000 đồng.

Lần thứ mười lăm: Lâm giao hàng (không rõ loại hàng) cho khách hàng tên Thùy T12 trị giá 1.068.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chiếm đoạt không giao lại cho phía Công ty C2.

Tổng số tiền Đỗ Hoàng L chiếm đoạt là 54.950.044 đồng.

Ngày 04/10/2022, sau khi phát hiện bị chiếm đoạt tiền, ông V1 Chi Quay là giám đốc Công ty C2 chi nhánh B làm đơn tố giác Nguyễn Hữu N4Đỗ Hoàng L có hành vi tham ô tài sản. Ngày 06/02/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; sau đó Quyết định khởi tố bị can đối với Đỗ Hoàng L, Nguyễn Hữu N4 về tội Tham ô tài sản quy định tại khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Hữu N4 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên ngày 06/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với bị can Nguyễn Hữu N4, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn C đi giao hàng thông qua tài khoản của Đỗ Hoàng L, sau đó lấy tiền của khách hàng về đưa lại cho L, C không biết L chiếm đoạt tiền của công ty C2 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý đối với C.

Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Hoàng L đã bồi thường số tiền 54.950.045 đồng cho Công ty C2, người đại diện theo ủy quyền không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Cáo trạng số 128/CT-VKSTA ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Đỗ Hoàng L về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng L mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp: Bị hại đã nhận bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết..

- Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được việc vi phạm pháp luật, xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa sai, cải tạo thành người công dân tốt, có điều kiện chăm sóc gia đình vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đây là sự tự nguyện, không trái pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt; việc vắng mặt những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Đỗ Hoàng L là nhân viên của công ty TNHH một thành viên C2, L được ký kết hợp đồng bởi công ty TNHH một thành viên C2 chi nhánh B với nhiệm vụ nhân viên kho bưu cục (chịu trách nhiệm số lượng hàng hóa, phân loại hàng hóa lưu trữ tại kho có địa chỉ Đường N, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, giao hàng theo sự phân công). Từ ngày 27/7/2020 đến 30/8/2020, Đỗ Hoàng L lợi dụng việc giao hàng và thu tiền nhưng không giao lại cho Công ty, L đã chiếm đoạt 15 lần với số tiền lần thấp nhất 45.000đ (bốn mươi lăm nghìn đồng) đến số tiền cao là 6.010.000đ (sáu triệu không trăm mười nghìn đồng), tổng số tiền chiếm đoạt của Công ty TNHH Một thành viên C2 chi nhánh B là 54.950.044đ (năm mươi bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) thì bị phát hiện. Bị cáo thực hiện hành vi nhiều lần với lỗi cố ý trực tiếp, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi bị cáo thực hiện nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo đã bồi thường số tiền chiếm đoạt cho bị hại, đồng thời bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[7] Đối với Nguyễn Hữu N4 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên ngày 06/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với bị can Nguyễn Hữu N4, khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn C đi giao hàng thông qua tài khoản của Đỗ Hoàng L, sau đó lấy tiền của khách hàng về đưa lại cho L, C không biết L chiếm đoạt tiền của công ty C2 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý đối với C là có căn cứ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã giao trả toàn bộ số tiền thiệt hại bị cáo chiếm đoạt cho công ty TNHH một thành viên C2, hiện công ty C2 không có yêu cầu gì khác.

[9] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không có.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 292, 293,331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng L phạm tội “Tham ô tài sản”.
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xem xét, giải quyết.
  3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không có.
  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Công an thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoa Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tội tham ô tài sản)

  • Số bản án: 134/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐO HOANG L pham tôi tham o tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger