|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày 31 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung
Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Lê Hữu T; sinh ngày 02 tháng 01 năm 1998 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: P, chung cư B, khối A, phường P, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1977; Vợ chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 20/9/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 13/5/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2023. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Hoài N, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2003 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thức N1, sinh năm 1974 và bà Lương Thị L1, sinh năm 1976; Vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2023. Có mặt.
3. Họ và tên: Thái Bá S, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1999 tại huyện Q, tỉnh An; nơi cư trú: thôn E, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Vận động viên; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; họ và tên cha: Thái Bá C, sinh năm 1973; họ và tên mẹ: Quách Thị T1, sinh năm 197; Có vợ: Nguyễn Anh N2, sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 11/10/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Hữu T: Luật sư Trần Thị Hải L2 - Văn phòng luật sư Vinh D và cộng sự, đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Phan Xuân H, sinh năm 1974; nơi ở hiện tại: khối C, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối tháng 4/2023, Nguyễn Lê Hữu T đi đám cưới một người bạn ở khách sạn G, thành phố V, T gặp một người đàn ông giới thiệu tên L3, nhà ở phường C, thành phố V. Qua nói chuyện, L3 biết T sử dụng ma túy nên đặt vấn đề khi nào cần mua ma túy thì liên lạc và T đưa điện thoại để L3 tự lưu số để liên lạc trong phần mềm Telegram. Tối ngày 20/6/2023, Nguyễn Lê Hữu T liên lạc với L3 qua T2 hỏi mua 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) Ketamine để sử dụng và nếu ai hỏi mua thì bán lại kiếm lời. Thời điểm này T đang thuê phòng ở chung cư B trên đường L, thành phố V, khoảng 30 phút sau ở dưới sân chung cư, L3 đưa cho T 01 (một) gói ni lộng màu trắng bên trong chứa ma túy Ketamine. T đưa cho L3 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Số ma túy này T đem lên phòng để vừa sử dụng vừa bán kiếm lời.
Khoảng tháng 5/2023, Thái Bá S (sinh năm 1999, trú tại: thôn E, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An) đang ngồi uống bia với một số người bạn là cầu thủ bóng đá thuộc biên chế của Câu lạc bộ Sông L thì có một người đàn ông giới thiệu có người quen bán ma túy và cho S số điện thoại 0943.216.xxx của người này để lưu. Khoảng 21 giờ ngày 29/6/2023, Thái Bá S sử dụng số điện thoại 0362.643.xxx gọi đến số 0943216203 của Nguyễn Hoài N hỏi mua 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) ma túy dạng Ketamine để sử dụng. N nói chỉ bán ít nhất 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). S đồng ý và chuyển 4.000.000 đồng từ tài khoản số 2159986868686 tại Ngân hàng TMCP Q (MB) mang tên THAI BA SANG đến tài khoản số 51810000433867 mang tên NGUYEN HOAI NAM tại Ngân hàng TMCP Đ1 (B) và nói N đưa ma túy đến khu vực Câu lạc bộ bóng đá S1 tại số F, đường Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi nhận được tiền từ S, Nguyễn Hoài N gọi điện qua phần mềm Messenger từ tài khoản “H” đến tài khoản “Thắng Hữu” cho Nguyễn Lê Hữu T và hỏi mua 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng) ma túy Ketamine. Sau khi thống nhất N dùng số tài khoản 51810000433867 mang tên NGUYEN HOAI NAM tại Ngân hàng TMCP Đ1 (B) chuyển 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng) đến số tài khoản 0846789777 mang tên NGUYEN LE HUU THANG tại Ngân hàng Q (MB) cho T. Sau khi nhận được tiền từ N, T lấy một ít Ketamine từ chỗ ma túy mua của L3 trước đó cho vào tờ giấy vệ sinh rồi gói lại để ở gốc cây dưới sân chung cư B (thời điểm này T sống chung với bạn gái và có thuê căn hộ tại chung cư B tại khối A, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An) và gọi điện qua Messenger cho N đến lấy. Sau khi lấy được ma túy, N đi đến vứt ở cổng Câu lạc bộ bóng đá Sông L Nghệ An rồi gọi điện cho Thái Bá S ra lấy. Số ma túy này Thái Bá S đã lấy và sử dụng hết nên không xác định được khối lượng ma túy Ketamine.
Khoảng 12 giờ ngày 01/7/2023, T tiếp tục liên lạc với L3 qua ứng dụng T2 và hỏi mua 300 viên thuốc lắc với giá 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng). T nói L3 đưa đến chung cư B giao cho T rồi trả tiền sau. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L3 nói đã đến chung cư B. Do lúc này T không ở nhà nên nói L3 để ma túy trong hộp điện ngoài hành lang trước phòng 606, khi nào T về sẽ lấy và trả tiền sau. L3 đồng ý.
Khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, Thái Bá S sử dụng số điện thoại 0362.643.xxx gọi điện thoại đến số 0943.216.xxx cho Nguyễn Hoài N để mua 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) ma túy dạng Ketamine và chuyển khoản đến tài khoản số 51810000433867 của N. Sau khi nhận được tiền từ S, N gọi điện qua M cho T để mua ma túy và chuyển 2.100.000 đồng đến số tài khoản 0846789777. Lúc này, T đang đi ngoài đường nên nói Nam lại sân chung cư B chờ. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T quay về nhà rồi đi vào phòng ngủ lấy số ma túy Ketamine để trong túi zip còn lại mà T mua của L3 trước đó rồi cho vào túi quần. Sau đó, T đi ra mở hộp điện ngoài hành lang trước cửa phòng thì thấy bên trong có một gói được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, bên trong chứa nhiều viên ma túy thuốc lắc màu xám. T cầm gói ma túy thuốc lắc đi vào phòng để cất rồi mới xuống giao ma túy cho N.
Khi Nguyễn Lê Hữu T vừa đến trước cửa phòng 606 thì bị Công an thành phố V kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ của Nguyễn Lê Hữu T 01 (Một) gói ma túy loại Ketamine có khối lượng 1,155 gam; 01 (Một) gói ma túy loại MDMA có khối lượng 121,115 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, đã qua sử dụng; Còn Nguyễn Hoài N cũng bị bắt, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng của Nguyễn Hoài N. Nguyễn Lê Hữu T hưởng lợi 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm ngàn đồng), Nguyễn Hoài N hưởng lợi 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm ngàn đồng).
Ngày 02/10/2023, Thái Bá S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N xin đầu thú về hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số 765/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 07/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Lê Hữu T và Nguyễn Hoài N gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có khôi lượng là 1,155 g (một phầy một trăm năm mươi lăm gam).
- Mẫu viên nén màu xám, hình dạng không xác định thu giữ của Nguyên Lê Hữu T3 gửi đến giám định là ma túy; loại MDMA có tổng khối lượng là 121,115g (một trăm hai mươi một phây một trăm mười lăm gam)”.
Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Lê Hữu T có đơn xin giám định tâm thần. Tại kết luận số 61/KL GD ngày 29/01/2024 của phân viện pháp y tâm thần Bắc miên T4 giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu kết luận: “Tại thời điểm trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Lê Hữu T bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác với Hội chứng nghiện, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã là: F16.2.
Tại thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Nguyễn Lê Hữu T bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác với Hội chứng nghiện, hiện đang cai nhưng ở trong môi trường được bảo vệ, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F16.21.
Tại tất cả các thời điểm đã nêu trên, Nguyễn Lê Hữu T đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi”.
Về thu giữ, xử lý vật chứng vụ án:
- - 1,155 gam ma túy loại Ketamine đã lậy 0,300 gam để giám định còn lại 0,855 gam; 121,115 gam ma túy loại MDMA đã lấy 4,000 gam để giám định còn lại 117,115 gam;
- - 01 (một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POKET SCALE, màu đen đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Lê Hữu T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Lê Hữu T;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh rêu đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ nhiều nơi, phần lưng máy bị nút vỡ nhiều nơi, thu giữ của Nguyễn Hoài N.
Vật chứng hiện bảo quản tại kho vật chứng, Cục thi hành án tỉnh Nghệ An
Với nội dung trên, Bản cáo trạng số 70/CT-VKS-P1 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Lê Hữu T theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Nguyễn Hoài N theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Thái Bá S theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Hữu T 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 7 đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thái Bá S 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Tại thời điểm bàn giao Cục T5, máy không lên nguồn, không kiểm tra được imei.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh rêu đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Màn hình bị vỡ nhiều nơi, phần lưng máy cũng bị nút vỡ nhiều nơi. Số imei: 352850112375706.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 phong bì thư bưu điện được dán kín và niêm phong đúng quy định, bên trong đựng số vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gồm: 117,115 gam ma túy MDMA và 0,855 gam Ketamine cùng vỏ niêm phong cũ.
- + 01 (một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POKET SCALE, màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- Truy thu số tiền 4.200.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Lê Hữu T.
- Truy thu số tiền 3.800.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Hoài N.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Hữu T: Thống nhất với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm trở về với xã hội.
Bị cáo Nguyễn Lê Hữu T đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư và không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
- Bị cáo Nguyễn Hoài N và Thái Bá S thống nhất với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo phạm tội với khối lượng ma tuý thấp.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lê Hữu T và các bị cáo không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, luật sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Lê Hữu T, Nguyễn Hoài N, Thái Bá S đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với lời khai người chứng kiến. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận:
Lần thứ nhất: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/6/2023, tại chung cư B, khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An Nguyễn Lê Hữu T đã bán cho Nguyễn Hoài N 01 (một) gói ma túy Ketamine với giá 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng). Nguyễn Hoài N bán lại cho Thái Bá S với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), số ma túy này Thái Bá S đã sử dụng hết.
Lần thứ hai: khoảng 18 giờ ngày 01/7/2023, tại chung cư B, khôi A, Phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Lê Hữu T mua của một người đàn ông tên L3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 121,115 gam ma túy loại MDMA với giá 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) cất dấu ma túy tại hộp điện ngoài hành lang trước phòng 606 chung cư B mục đích để bán cho người khác kiếm lời.
Lần thứ ba: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 01/7/2023 tại chung cư B, khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An Nguyễn Lê Hữu T bán cho Nguyễn Hoài N 1,155 gam ma túy loại Ketamine với giá 2.100.000 đồng. Nguyễn Hoài N bán lại cho Thái Bá S với giá 4.000.0000 đồng, mục đích Thái Bá S mua ma tuý để sử dụng. Khi Nguyễn Lê Hữu T lấy ma túy Ketamine để giao cho Nguyễn Hoài N và ra hộp điện ngoài Phòng 606 của Chung Cư B lấy 121,115 gam ma túy loại MDMA mua trước đó thì bị Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang.
Đối với hành vi của Nguyễn Lê Hữu T: Bị cáo đã có hành vi 03 lần mua bán trái phép chất ma tuý với tổng khối lượng ma tuý phải chịu trách nhiệm hình sự là 121,115 gam ma túy (MDMA) và 1,155 gam ma túy (Ketamine).
Đối với hành vi của Nguyễn Hoài N: Bị cáo đã 02 lần mua ma tuý với mục đích bán kiếm lời thuộc tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS nên Nguyễn Hoài N phải chịu trách nhiệm về hành vi 02 lần mua bán trái phép tổng khối lượng 1,155 gam ma túy.
Đối với hành vi của Thái Bá S: Bị cáo mua ma tuý với mục đích sử dụng, bị cáo Thái Bá S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 1,155 gam ma túy (Ketamine).
Đối với lần mua ma túy Ketamin vào ngày 29/6/2023, do Thái Bá S đã sử dụng hết nên không xác định được chất và khối lượng ma túy mà N đã mua của T nên không có căn cứ để xử lý về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Thái Bá S.
Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Lê Hữu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Hoài N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hìnhvà truy tố bị cáo Thái Bá S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quy định của Nhàvề quản lý độc quyền các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây nguy hại cho sức khỏe, là nguyên nhân phát sinh ra nhiều tội phạm khác. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội độc lập, bị cáo T mua ma tuý, bán kiếm lời nhiều lần cho Nguyễn Hoài N, Nguyễn Hoài N mua mà tuý từ T để bán lại cho S còn bị cáo S mua ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Có căn cứ để xử lý bị cáo Nguyễn Lê Hữu T với 03 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, nên thuộc trường hợp Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo Nguyên Lê Hữu T3; Nguyễn Hoài N trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Bị cáo Thái Bá S thành khẩn khai báo, được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H tặng bằng khen, tự nguyện đầu thú, có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, tích cực tham gia phong trào phòng chống covid và cứu người chết đuối vì vậy được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Lê Hữu T và bị cáo Nguyễn Hoài N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy được hậu quả, tác hại của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo T mua ma tuý với số lượng lớn nhằm mục đích bán lẻ kiếm lời mặc dù trước đó đã xử phạt về loại tội phạm này, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, không chịu hoàn lương, khó giáo dục cải tạo thành người lương thiện. Bị cáo N đã mua ma tuý từ bị cáo T để bán kiếm lời 02 lần. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo với mức nghiêm minh, cách ly các bị cáo T và bị cáo N khỏi cuộc sống xã hội một thời gian để răn đe cũng như phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Đối với bị cáo Thái Bá S, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo để trở thành công dân tốt và việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản gì lớn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Ma tuý là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;
- 01 (một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POKET SCALE, màu đen đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Lê Hữu T là công cụ để thực hiện việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Lê Hữu T là công cụ thực hiện việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh rêu đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ nhiều nơi, phần lưng máy bị nút vỡ nhiều nơi, thu giữ của Nguyễn Hoài N là công cụ thực hiện việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- Truy thu số tiền 4.200.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Lê Hữu T.
- Truy thu số tiền 3.800.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Hoài N.
[6] Đối với người đàn ông tên L3, Nguyễn Lê Hữu T khai là người bán ma tuy cho T, do Nguyễn Lê Hữu T không biết lai lịch, tên tuôi, địa chỉ cụ thê nên không có căn cứ đê xác minh làm rõ.
Đối với người đàn ông đã cho Thái Bá S số điện thoại của Nguyễn Hoài N để mua ma túy do S không biết lai lịch, tên tuổi, địa chỉ cụ thê nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[7] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Hữu T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 7 (bảy) năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/7/2023.
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thái Bá S 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 31/7/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Giao bị cáo Thái Bá S cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An và gia đình quản lý, giáo dục trong thòi gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Tại thời điểm bàn giao Cục T5, máy không lên nguồn, không kiểm tra được imei.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh rêu đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Màn hình bị vỡ nhiều nơi, phần lưng máy cũng bị nút vỡ nhiều nơi. Số imei: 352850112375706.
- + 01 (một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POKET SCALE, màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 phong bì thư bưu điện được dán kín và niêm phong đúng quy định, bên trong đựng số vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gồm: 117,115 gam ma túy MDMA và 0,855 gam Ketamine cùng vỏ niêm phong cũ.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Truy thu số tiền 4.200.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Lê Hữu T.
- Truy thu số tiền 3.800.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Hoài N.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Lê Hữu T, Nguyễn Hoài N, Thái Bá S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Trung |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lê Hữu Th và đồng phạm
