|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thanh Đức.
2. Ông Lê Ngọc Thơm.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ H, sinh năm: 1988 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: 26/1/17, đường số E, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn D, sinh năm: 1955 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1958; Chồng Đinh Văn Đ, sinh năm: 1989 và hai người con chung; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Bị hại: Trần T, sinh năm: 1977; (Có mặt)
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;
Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1972; (Theo Hợp đồng ủy quyền số 000420 ngày 24/9/2024 tại Văn phòng C). (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 1998, ông Phan Văn T1 (sinh năm 1965, nơi cư trú: thôn B, xã T, thị xã L) đã bán cho ông Trần L (sinh năm 1952, nơi cư trú: thôn B, xã T, thị xã L) một diện tích đất tại thửa số 587, tờ bản đồ số 49 (địa chỉ đất tại thôn B, xã T, thị xã L). Quá trình mua bán giữa ông T1 và ông L chỉ viết giấy tay; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông T1, mặc dù ông L đã thanh toán hết tiền mua đất cho ông T1.
Đến ngày 10/11/2020, ông L và vợ là bà Hoàng Thị M (sinh năm 1955) bán lại mảnh đất này cho ông Trần Trọng . Trong quá trình mua bán, hai bên đã lập “Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Văn bản này ghi rõ việc bán cho ông T 02 thửa đất: thửa thứ nhất giáp đường N, rộng 05 mét, dài 50 mét, gắn liền với căn nhà cấp 4; thửa thứ hai rộng 15 mét, dài 50 mét (có xác nhận của trưởng thôn). Giá chuyển nhượng là 700.000.000 đồng, ông T đã thanh toán đầy đủ.
Đến ngày 03/5/2021, ông L viết giấy tay bán cho bà Nguyễn Thị H diện tích đất mà ông L đã bán cho ông T trước đó, với giá 900.000.000 đồng. Bà H đã thanh toán được 450.000.000 đồng. Sau đó, bà H phát hiện rằng ông L đã bán diện tích đất này cho ông T trước đó, nên vào ngày 30/5/2021, bà H gặp ông L đòi lại tiền. Ông L đã viết giấy cam kết sẽ trả lại 450.000.000 đồng cho bà H, nhưng sau đó ông không thực hiện cam kết.
Đến ngày 09/7/2023, bà H thỏa thuận với ông T rằng ông T sẽ đưa cho bà 400.000.000 đồng để thay ông L trả lại tiền cho bà. Tuy nhiên, ông T đã không thực hiện theo cam kết. Do bức xúc trước việc này, vào ngày 06/10/2023, bà H đã thuê xe máy xúc đến đập phá căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất mà ông L đã bán cho ông T, khiến căn nhà bị hư hỏng hoàn toàn. Sau sự việc, ông T đã làm đơn trình báo với chính quyền địa phương về việc bà H hủy hoại tài sản.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L, kết luận:
- - Căn nhà cấp 4 được xây dựng vào năm 1998, bị đập phá hư hỏng hoàn toàn, có diện tích 7,98m x 4,32m = 34,4736 m², tường xây bằng xi măng, mái lợp tôn xi măng, đòn tay bằng gỗ, có 02 cửa sổ và 01 cửa lớn, khung cửa bằng gỗ, tấm pana cửa bằng thiếc.
- - Chi phí xây dựng nhà cấp 4 theo hiện trạng là: 2.500.000 đồng/m² x 34,4736 m² = 86.184.000 đồng.
- - Tỷ lệ giá trị còn lại của căn nhà là 50%, nên giá trị thiệt hại là 86.184.000 đồng x 50% = 43.092.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại được định giá là 43.092.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSLG-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Hủy hoại tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s, n khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, được sửa đổi, bổ sung ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Trần T yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền là 115.000.000 đồng; Nguyễn Thị H đã bồi thường được số tiền là 43.092.000 đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện hổ trợ thêm cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị không xét.
Tại phiên tòa bị cáo H xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- [3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp
với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ tranh chấp trong việc mua bán đất đai và cho rằng Trần Trọng K thực hiện đúng như thoả thuận nên vào ngày 06/10/2023, Nguyễn Thị H thuê xe máy cuốc đến đập căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất mà ông Trần L đã bán cho Trần Trọng G thiệt hại với số tiền là 43.092.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra, Trần Trọng L1 đơn trình báo với chính quyền địa phương để xử lý theo quy định của pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo H là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- [4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, và bị cáo nhận thức rõ rằng quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị pháp luật xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên, chỉ vì tranh chấp dân sự về đất đai, bị cáo đã có hành vi thuê máy cuốc để đập phá căn nhà là tài sản của bị hại. Điều này chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, dẫn đến việc phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là phụ nữ có thai, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét các tình tiết này khi lượng hình đối với bị cáo.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, kết hợp với việc xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo và mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải đưa ra một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Mục tiêu không chỉ là để trừng phạt mà còn nhằm tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm, đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo để trở thành những công dân có ích, góp phần xây dựng một xã hội an toàn và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ lưỡng, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nhất thời, xuất phát từ những suy nghĩ bồng bột, chưa chín chắn. Bên cạnh đó, bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải sâu sắc, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, hơn nữa hiện tại bị cáo đang nuôi con nhỏ. Thêm vào đó, bị cáo có nơi cư trú ổn định, cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo tốt. Vì vậy, việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không những
không gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự xã hội mà còn có thể giúp bị cáo có cơ hội tốt hơn để tái hòa nhập cộng đồng.
Hội đồng xét xử cũng ghi nhận rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có bốn tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cùng các tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ này, Hội đồng xét xử xét thấy việc áp dụng hình phạt tù là không cần thiết. Thay vào đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, được sửa đổi, bổ sung ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, để cho phép bị cáo được hưởng án treo. Việc giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, nơi bị cáo cư trú, để giám sát và giáo dục là phù hợp.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Trần T yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền là 115.000.000 đồng; Nguyễn Thị H đã bồi thường được số tiền là 43.092.000 đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện hổ trợ thêm cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, được sửa đổi, bổ sung ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án 30/9/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản
án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của bị cáo, bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Biện Việt Hùng |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hủy hoại tài sản
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ tranh chấp trong việc mua bán đất đai và cho rằng Trần T không thực hiện đúng như thoả thuận nên vào ngày 06/10/2023, Nguyễn Thị H thuê xe máy cuốc đến đập căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất mà ông Trần L đã bán cho Trần T gây thiệt hại với số tiền là 43.092.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra, Trần Trọng làm đơn trình báo với chính quyền địa phương để xử lý theo quy định của pháp luật. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án 30/9/2024.
