|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 134/2024/HS-ST Ngày: 11-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Văn Hậu.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST - HS ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST – HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Văn N, (tên gọi khác: không); sinh ngày 25 tháng 06 năm 2002 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn N1, sinh năm 1977 và con bà Trần Thị L, sinh năm 1977; Vợ: Cao Thị Thúy N2, sinh năm 2003 và có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/06/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, Cao Văn N đang ở nhà thì nảy sinh ý định mua túy để sử dụng. N đi sang xã D, gần cây xăng dầu thuộc xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì gặp người đàn ông tên L1 không rõ tên tuổi, ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Cao Văn N hỏi “Anh có ma túy hồng phiến không”, L1 trả lời “ có” thì N nói “bán cho em bốn trăm nghìn đồng”. Nghĩa là N hỏi L1 có ma túy hồng phiến không bán cho N bốn trăm nghìn đồng về để sử dụng. Lé hiểu và đồng ý Cao Văn N lấy 400.000 đồng đưa cho L1, L1 đưa lại cho N 01 gói nilon màu đen, bên trong có chứa 04 viên ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, Cao Văn N đi đến khu vực nghĩa địa xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Cao Văn N đi đến đoạn đường liên xã thuộc xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng công an huyện D phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên mặt đường ngay vị trí Nam đứng một gói nilon màu đen, bên trong chứa 04 viên ma túy hống phiến. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong vật chứng và dẫn giải Cao Văn N về trụ sở công an huyện D làm việc.
Tại Bản kết luận giám định số 686/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Cao Văn N gửi tới giám định là ma túy, loại methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,4gam (Không phẩy bốn gam).
Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSDC ngày 07/08/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Cao Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Cao Văn N từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Cao Văn N. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên toà, Cao Văn N hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, tại khu vực đường liên xã thuộc xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác công an huyện D phát hiện bắt quả tang Cao Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng là 0,4 gam ma túy methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã truy tố và đề nghị kết tội bị cáo Cao Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sự duy trì nòi giống của dân tộc. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Bị cáo nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không vì mục đích vụ lợi. Theo tài liệu điều tra thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: số ma túy sau khi giám định đựng trong 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
[8.1] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[8.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Cao Văn N (Theo lời khai của N); do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Văn N 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 14/06/2024).
- Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong theo đúng quy định bên trong có chứa 02 (hai) viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,2gam (không phẩy hai gam), 01 (một) vỏ gói nilon màu đen và 01 (một) phong bì thư niêm phong ban đầu.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số 24NK128 ngày 09/8/2024.
- Về án phí: Bị cáo Cao Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 134/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 134/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Văn Nam 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 14/06/2024).
