|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/9/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 366/2024/TLVA-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Kim M, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Bị đơn: Bà Huỳnh Trương Bảo T, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Kim M trình bày:
Ông M và bà Huỳnh Trương Bảo T sống chung với nhau vào năm 2014, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 09/4/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà cha mẹ ruột ông M tại khu phố B, phường Đ. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, hay xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bà T không tôn trọng ông M, chửi bới ông thậm tệ; Bà T gây nợ nần, hay kiếm chuyện vô cớ. Đến đầu năm 2023 vợ chồng không còn sống chung với nhau, mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc nhau và cũng không ai đặt vấn đề quay lại sống chung.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Huỳnh Trương Bảo T.
Về con chung: Ông M và bà T có 01 con chung Trần Kim T1, sinh ngày 31/10/2017. Ly hôn, ông M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và ông không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu T1 đang sống với ông M tại khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, Ông M làm nghề làm biển quảng cáo thu nhập hàng tháng từ 12.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng, nên đủ điều kiện để lo cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Huỳnh Trương Bảo T: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trần Kim M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Huỳnh Trương Bảo T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường Đ, TP . - T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Ông Trần Kim M và bà Huỳnh Trương Bảo T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 09/4/2015, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, đời sống vợ chồng của ông M và bà T không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, mạnh ai nấy sống. Vợ chồng ông M, bà T đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng bà không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Tình trạng mâu thuẫn giữa ông M và bà T được Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận ngày 27/6/2024. Bà T biết việc ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện bà T không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông M và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Ông M và bà T có 01 con chung tên Trần Kim T1, sinh ngày 31/10/2017. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T1 hiện đang ở với ông M, được chăm sóc, giáo dục tốt; Ông M đủ điều kiện để nuôi con nên giao cháu T1 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông M không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trần Kim M được ly hôn với bà Huỳnh Trương Bảo T.
Về con chung: Giao cho ông Trần Kim M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Kim T1, sinh ngày 31/10/2017. Bà Huỳnh Trương Bảo T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do ông M không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí: Ông Trần Kim M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông mẫn đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002820 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Trần Kim M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |
Bản án số 134/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 134/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Kim Mẫn và bà Huỳnh Phương Bảo Tố yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con
