Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 134/2024/HN-PT
Ngày: 30/9/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thủy Tiên
Bà Nguyễn Hoàng Anh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Viết Nhiên - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 64/2024/TLPT-HNGĐ ngày 19/6/2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4732/2024/QĐ-PT ngày 14/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14162/2024/QĐ-PT ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Bích N, sinh năm 1978 (Có mặt).
    Địa chỉ: A đường số B, KDC F, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1976 (Có mặt).
    Địa chỉ: G đường số D, KDC F, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Hoàng H1 - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành Phố H (Có mặt).
  4. Người kháng cáo: Ông Bùi Văn H - Bị đơn.
  5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm:

* Tại đơn khởi kiện; bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bà Lâm Thị Bích N trình bày:

Bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H tự nguyện kết hôn vào năm 2006; theo giấy chứng nhận kết hôn số 170; quyển số 05/2004; ngày 03/3/2006 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp.

Thời gian đầu sống chung hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; bà N và ông H đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà N yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 04 con chung tên Bùi Lâm Gia H2, sinh ngày 26/8/2006; Bùi Lâm Gia T, sinh ngày 16/12/2007; Bùi Lâm Gia T1, sinh ngày 13/02/2014 và Bùi Lâm Gia P, sinh ngày 19/8/2019.

Bà Lâm Thị Bích N yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ Bùi Lâm Gia H2, sinh ngày 26/8/2006 và trẻ Bùi Lâm Gia P, sinh ngày 19/8/2019. Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lâm Thị Bích N đồng ý giao 02 trẻ Bùi Lâm Gia T, sinh ngày 16/12/2007 và Bùi Lâm Gia T1, sinh ngày 13/02/2014 cho ông H trực tiếp nuooi dưỡng. Bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Công việc của bà N là chủ doanh nghiệp tư nhân, mức thu nhập hàng tháng khoảng 50 triệu đồng/tháng. Bà N là chủ doanh nghiệp nên bà có tài chính và thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Khi thăm và dẫn đi chơi hoặc ăn uống...thì sau khi về thì ông H có những lời lẽ không phù hợp, ông H không cho chở con về nhà mẹ, gây khó khăn cản trở cho việc mẹ con thăm nuôi nhau, sau khi đi chơi với mẹ về thì bị ông H la mắng, có khi bị đánh đòn, ngầm hiểu là không được phép đi với mẹ.

Ông H có nói tại sao bà N không nuôi con từ nhỏ thì bà N trình bày: Khoảng cuối năm 2020 bà N và ông H không hợp tác làm ăn chung và tách ra làm ăn riêng; ông H yêu cầu bà N dọn nhà ra ở riêng và không thể chịu đựng áp lực nên bà N phải ra ở riêng. Ông H nhiều lần xúc phạm bà, dùng các lời nói dung tục; khi đi bà có mang theo con nhưng sau đó bị ông H bắt con về; rất nhiều lần thăm con bị ông H xúc phạm. Khi ông H bắt cháu út về thì lúc đó con còn đang bú sữa mẹ, làm cho bà đau khổ vì không được thăm con và cho con bú sữa mẹ. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Bùi Văn H trình bày:

Ông Bùi Văn H xác nhận ông và bà Lâm Thị Bích N tự nguyện kết hôn vào năm 2006; theo giấy chứng nhận kết hôn số 170; quyển số 05/2004; ngày 03/3/2006 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp.

Thời gian đầu sống chung hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; bà N và ông H đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà N yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông H. Ông Bùi Văn H đồng ý ly hôn với bà N.

Về con chung: Có 04 con chung tên Bùi Lâm Gia H2, sinh ngày 26/8/2006; Bùi Lâm Gia T, sinh ngày 16/12/2007; Bùi Lâm Gia T1, sinh ngày 13/02/2014 và Bùi Lâm Gia P, sinh ngày 19/8/2019.

Ông Bùi Văn H yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ ; Bùi Lâm Gia T, sinh ngày 16/12/2007; Bùi Lâm Gia T1, sinh ngày 13/02/2014 và Bùi Lâm Gia P, sinh ngày 19/8/2019. Ông H không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Ông Bùi Văn H đồng ý giao trẻ Bùi Lâm Gia H2, sinh ngày 26/8/2006 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H không cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Công việc của ông H là kinh doanh tự do, thu nhập khoảng 01 tỷ đồng/tháng. Ông H khẳng định có điều kiện về con người và tài chính để đảm bảo nuôi dưỡng 03 con và ông không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Trẻ Bùi Lâm Gia P hiện đang học tại nhà trẻ mầm non T3. Hiện trẻ P đang do ông H nuôi dưỡng (ông H nuôi trẻ P từ ngày 21/02/2021 cho đến nay).

Do bà N thiếu trách nhiệm đối với việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nên ông mới phải nuôi trẻ từ nhỏ đến giờ; các con học cả ngày ở trường nên việc mẹ con thăm nuôi nhau phải phù hợp, tại sao thứ 7 và chủ nhật bà N không thăm con mà cứ thăm con vào các ngày khác. Bà N không có xe ô tô nên việc đưa con đi chơi bằng xe máy là rất nguy hiểm, không an toàn. Ông mong muốn được nuôi con để các anh chị em thương yêu chăm sóc nhau sau giờ học hành. Ông H khẳng định không hề đuổi bà N ra khỏi nhà; lúc chia tay thì cháu Gia P đã thôi nôi. Bà N là người viết đơn ly hôn; các con tự nguyện ở với ông, khi vợ chồng cãi nhau thì các con đều chứng kiến. Tại phiên tòa ông đề nghị đưa bà Nguyễn Thị Ngọc C là người giúp việc nhà cho ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.

Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

* Luật sư Ngô Việt B bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lâm Thị Bích N trình bày: Thống nhất với sự thỏa thuận của các đương sự về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dương nuôi con, tài sản chung và nợ chung.

Riêng đối với tranh chấp nuôi con là trẻ Bùi Lâm Gia P, sinh ngày 19/8/2019 thì luật sư trình bày: Bà N không hề bỏ con ra ngoài sống, khi bà không thể sống được với ông H thì bà ra ngoài thuê nhà sống và lúc đó bà N mang theo 04 con, sau đó một tời gian thì ông H bắt con về. Hiện nay bà N và ông H đều ở nhà thuê; bà N có công việc và thu nhập ổn định, có thời gian chăm sóc nuôi dưỡng con chu đáo. Việc ông H ngăn cấm không cho bà N thăm nuôi con, xúc phạm bà N là xâm phạm đến quyền của người mẹ được chăm sóc nuôi

dưỡng con. Căn cứ vào các tin nhắn mà ông H thừa nhận tại phiên tòa là tin nhắn của ông thì thể hiện ông đã có những hành vi ngăn cản và xúc phạm bà N. Tuy nhiên tại phiên tòa ông nói nội dung các tin nhắn đó chỉ là cảm tính là không phù hợp. Mặt khác, trẻ Gia P còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc, tình thương yêu của người mẹ. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao trẻ Gia P cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không đồng ý đưa bà C vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng vì bà C đang lệ thuộc ông H về công việc và cuộc sống; không đồng ý áp dụng án lệ số 54/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao.

* Luật sư Nguyễn Hoàng H1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Văn H trình bày: Thống nhất với sự thỏa thuận của các đương sự về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dương nuôi con, tài sản chung và nợ chung.

Riêng đối với tranh chấp nuôi con là trẻ Bùi Lâm Gia P, sinh ngày 19/8/2019 thì luật sư trình bày: Ông Bùi Văn H không có hành vi ngăn cấm bà N thăm nuôi con, vì nếu ông H ngăn cấm thì sao bà N vẫn thăm nuôi con được; ông H và bà N đều thuê nhà, tuy nhiên ông H thuê nhà to và rộng hơn nên điều kiện ăn ở sinh hoạt tốt hơn; ông H có thu nhập cao hơn bà N; hiện tại ông H chăm sóc và nuôi con rất tốt, các con đều mong muốn ở với cha. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Văn H về việc được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Bùi Lâm Gia P. Yêu cầu đưa bà C vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng; yêu cầu áp dụng án lệ số 54/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao.

Bản án sơ thẩm số: 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ khoản 1 Điều 6; Điều 91, 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Bích N và ông ông Bùi Văn H thuận tình ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 170; quyển số 05/2004; ngày 03/3/2006 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: công nhận sự thỏa thuận của Bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H:

2.1. Giao trẻ Bùi Lâm Gia H2, sinh ngày: 26/8/2006 cho bà Lâm Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Giao trẻ Bùi Lâm Gia T, sinh ngày 16/12/2007; Bùi Lâm Gia T1, sinh ngày 13/02/2014 cho ông Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H thỏa thuận không ai cấp dưỡng nuôi con.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Bùi Văn H và bà Lâm Thị Bích N.

Tuyên xử

Chấp nhận yêu cầu nuôi trẻ Bùi Lâm Gia P của bà Lâm Thị Bích N.

1.Buộc ông Bùi Văn H giao trẻ Bùi Lâm Gia P, sinh ngày: 19/8/2019 cho bà Lâm Thị Bích N là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Bùi Văn H và bà Lâm Thị Bích N có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

2.Về tài sản chung : Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 18/5/2024, ông Bùi Văn H có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số: 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao trẻ Bùi Lâm Gia P cho ông trực tiếp nuôi dưỡng. Ngày 21/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐKNPT-VKS.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Lâm Thị Bích N trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không có ý kiến nào khác.

Bị đơn ông Bùi Văn H trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số: 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao trẻ Bùi Lâm Gia P cho ông trực tiếp nuôi dưỡng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

I. VỀ VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án

  • Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua việc kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
  • Tòa án có thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, theo quy định tại Điều 286 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Hồ sơ vụ án cũng đã được chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Các đương sự đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

4. Tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị

Ngày 06/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tuyên án. Ngày 18/5/2024, ông Bùi Văn H nộp đơn kháng cáo và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí. Căn cứ theo khoản 1 Điều 273 BLTTDS 2015, kháng cáo của ông H vẫn còn trong thời hạn theo luật định.

Ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐKNPT – VKS. Căn cứ khoản 1 Điều 280 BLTTDS 2015, kháng nghị trong hạn luật định.

Bị đơn ông Bùi Văn H kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cháu Bùi Lâm Gia P cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định kháng nghị số 07/QĐKNPT – VKS kháng nghị đối với Bản án sơ thẩm số 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh

II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ:

Ngày 25/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 601/QĐ-VKS-BC với nội dung rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm số 365/2024/DS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nên căn cứ Điều 312 BLTTDS 2015 đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với với kháng nghị số 07/QĐ- VKS-DS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh.

Xét kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn H:

Bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 03/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, ông H và bà N đều xác định có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau và hiện cả hai đã sống ly thân nên bà N và ông H đều đồng ý ly hôn.

Về con chung: bà N và ông H có 04 con chung là các trẻ: Bùi Lâm Gia H2 (sinh năm 2006), Bùi Lâm Gia T (sinh năm 2007), Bùi Lâm Gia T1 (sinh năm 2014) và Bùi Lâm Gia P (sinh năm 2019).

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà N và ông H cùng thống nhất giao trẻ Bùi Lâm Gia H2 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao 02 trẻ Bùi Lâm Gia T, Bùi Lâm Gia T1 cho ông H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Đối với trẻ Bùi Lâm Gia P, giữa bà N và ông H có tranh chấp về quyền nuôi con:

Xét thấy, theo những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, cả ông H bà N đều chứng minh được khả năng tài chính đảm bảo đủ điều kiện chăm lo cho con chung, cụ thể cả hai đều đang là chủ doanh nghiệp, có thu nhập ổn định. Hiện cả hai đều có chỗ ở, có thời gian để chăm sóc con.

Nguyên đơn và bị đơn đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng trẻ G.Tuy nhiên, nhận thấy trẻ Gia P hiện còn nhỏ (5 tuổi), đang ở độ tuổi cần sự chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo của người mẹ, đảm bảo cho việc phát triển tâm sinh lý của trẻ. Bản thân bà N khi chuyển ra sống riêng cũng có đưa theo cả 04 người con trong đó có trẻ Gia P để nuôi dưỡng nhưng sau đó ông H mang các con về sống cùng với ông, không cho bà N trực tiếp chăm sóc. Sau khi trẻ P về sống cùng ba, bà N vẫn thường xuyên liên lạc, thăm nom, chăm sóc, quan tâm con. Do vậy, không có việc nguyên đơn bỏ con, thiếu trách nhiệm như trình bày của bị đơn.

Theo tài liệu là các đoạn tin nhắn qua lại giữa ông H và bà N thể hiện ông H nhiều lần có hành vi ngăn cản việc bà N gặp con, việc thăm nuôi vô cùng khó khăn, phụ thuộc vào sự đồng ý của ông H. Việc nuôi dưỡng tại thời điểm khi con còn nhỏ rất cần thiết sự quan tâm của cả cha và mẹ. Bị đơn ngăn cản không cho các con gặp mẹ, có lời lẽ xúc phạm bà N là không đúng với quy định của luật hôn nhân và gia đình về quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Điều này có thể gây ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của trẻ nhỏ.

Phía bị đơn yêu cầu áp dụng án lệ số 54/2022/AL vào tranh chấp nuôi con chung này nhưng con chung trong án lệ thuộc trường hợp dưới 36 tháng và người mẹ bỏ đi để lại con cho bố nuôi. Tuy nhiên, tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu P sinh ngày 19/8/2019 đã trên 36 tháng, đồng thời cả ông H bà N đều xác nhận khi dọn ra ở riêng bà N có dẫn theo các con sau này ông H mới mang các con về. Do đó không có cơ sở để chứng minh việc bà N bỏ con. Vì vậy không có căn cứ áp dụng án lệ vào để giải quyết vụ án này.

Ngoài ra, bà N và ông H có 04 con chung, hai bên đã thỏa thuận ông H nuôi 02 trẻ là Bùi Lâm Gia T và Bùi Lâm Gia T1 nên việc Tòa án cấp sơ thẩm giao 02 trẻ còn lại là Bùi Lâm Gia H2 và Bùi Lâm Gia P cho bà N nuôi là hợp lý. Trường hợp quá trình chăm sóc nuôi dưỡng nếu có căn cứ xác định việc giao trẻ P cho mẹ

không đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của trẻ Gia P thì ông P được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con. Do vậy, việc Tòa án huyện B tuyên xử giao con cho bà N nuôi dưỡng là có căn cứ.

Ngoài ra ông H yêu cầu đưa bà Nguyễn Thị Ngọc C vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng. Tuy nhiên trên thực tế bà C không liên quan đến mâu thuẫn gia đình của bị đơn. Đồng thời ông H, bà N đều xác định bà C không biết những mâu thuẫn phát sinh trong cuộc hôn nhân này bởi lẽ, ông H bà N có mâu thuẫn nhưng không cãi vã, đánh đập, to tiếng với nhau. Vì vậy, việc ông H đề nghị đưa bà C vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là không cần thiết, từ đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của ông H.

Từ nhưng phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 312 BLTTDS 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị số 07/QĐ- VKS-DS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh.
  • -Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
  • -Giữ nguyên phần Bản án sơ thẩm số 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Bùi Văn H làm trong thời hạn luật định, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 272, 273, 279, 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh: Ngày 25/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 601/QĐ-VKS-BC với nội dung rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm số 365/2024/DS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 298, Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét kháng cáo của ông H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị đơn ông Bùi Văn H có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số: 365/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao trẻ Bùi Lâm Gia P cho ông trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét: Bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 03/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu

nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống, bà N và ông H đều xác định có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau và hiện cả hai đã sống ly thân nên bà N và ông H đều đồng ý ly hôn.

Về con chung: bà N và ông H có 04 con chung là các trẻ: Bùi Lâm Gia H2 (sinh năm 2006), Bùi Lâm Gia T (sinh năm 2007), Bùi Lâm Gia T1 (sinh năm 2014) và Bùi Lâm Gia P (sinh năm 2019).

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà N và ông H cùng thống nhất giao trẻ Bùi Lâm Gia H2 cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao 02 trẻ Bùi Lâm Gia T, Bùi Lâm Gia T1 cho ông H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Đối với trẻ Bùi Lâm Gia P, giữa bà N và ông H có tranh chấp về quyền nuôi con:

Xét thấy, theo những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, cả ông H bà N đều chứng minh được khả năng tài chính đảm bảo đủ điều kiện chăm lo cho con chung, cụ thể cả hai đều đang là chủ doanh nghiệp, có thu nhập ổn định. Hiện cả hai đều có chỗ ở, có thời gian để chăm sóc con.

Bà N và ông H đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng trẻ P, tuy nhiên, nhận thấy trẻ P hiện còn nhỏ (5 tuổi), đang ở độ tuổi cần sự chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo của người mẹ, đảm bảo cho việc phát triển tâm sinh lý của trẻ, bản thân bà N khi chuyển ra sống riêng cũng có đưa theo cả 04 người con trong đó có trẻ Gia P để nuôi dưỡng nhưng sau đó ông H mang các con về sống cùng với ông, không cho bà N trực tiếp chăm sóc, sau khi trẻ P về sống cùng ông H, bà N vẫn thường xuyên liên lạc, thăm nom, chăm sóc, quan tâm con; do vậy, không có việc bà N bỏ con, thiếu trách nhiệm như trình bày của ông H.

Theo tài liệu là các đoạn tin nhắn qua lại giữa ông H và bà N thể hiện ông H nhiều lần có hành vi ngăn cản việc bà N gặp con, việc thăm nuôi vô cùng khó khăn, phụ thuộc vào sự đồng ý của ông H, việc nuôi dưỡng tại thời điểm khi con còn nhỏ rất cần thiết sự quan tâm của cả cha và mẹ, ông H ngăn cản không cho các con gặp mẹ, có lời lẽ xúc phạm bà N là không đúng với quy định của luật hôn nhân và gia đình về quyền thăm nom, chăm sóc con chung, điều này có thể gây ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của trẻ nhỏ cả hiện tại cũng như về sau này.

Phía ông H yêu cầu áp dụng án lệ số 54/2022/AL để giải quyết tranh chấp nuôi con chung này nhưng con chung trong án lệ thuộc trường hợp dưới 36 tháng và người mẹ bỏ đi để lại con cho bố nuôi. Tuy nhiên, tại thời điểm giải quyết vụ án, trẻ P sinh ngày 19/8/2019 đã trên 36 tháng, đồng thời cả ông H và bà N đều xác nhận khi dọn ra ở riêng bà N có dẫn theo các con sau này ông H mới mang các con về, do đó, không có cơ sở để chứng minh việc bà N bỏ con, vì vậy, không có căn cứ để áp dụng án lệ vào giải quyết trong vụ án này.

Ngoài ra, bà N và ông H có 04 con chung, hai bên đã thỏa thuận ông H nuôi 02 trẻ là Bùi Lâm Gia T và Bùi Lâm Gia T1 nên việc Tòa án cấp sơ thẩm giao 02 trẻ còn lại là Bùi Lâm Gia H2 và Bùi Lâm Gia P cho bà N nuôi là hợp lý. Trường hợp quá trình chăm sóc nuôi dưỡng nếu có căn cứ xác định việc giao trẻ P cho bà N nuôi không đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của trẻ

Gia P thì ông H được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con. Do vậy, việc Tòa án huyện B tuyên xử giao con cho bà N nuôi dưỡng là có căn cứ.

Ngoài ra ông H yêu cầu đưa bà Nguyễn Thị Ngọc C vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng. Tuy nhiên trên thực tế bà C không liên quan đến mâu thuẫn gia đình của bị đơn. Đồng thời ông H, bà N đều xác định bà C không biết những mâu thuẫn phát sinh trong cuộc hôn nhân này bởi lẽ, ông H bà N có mâu thuẫn nhưng không cãi vã, đánh đập, to tiếng với nhau. Vì vậy, việc ông H đề nghị đưa bà C vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là không cần thiết, từ đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của ông H.

Tại giai đoạn phúc thẩm, ông H cũng không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, do vậy, kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn H không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các điều 19, 51, 52, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 365/2024/DS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh:

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Bích N và ông ông Bùi Văn H thuận tình ly hôn.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của Bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H:

2.1. Giao trẻ Bùi Lâm Gia H2, sinh ngày: 26/8/2006 cho bà Lâm Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Giao trẻ Bùi Lâm Gia T, sinh ngày 16/12/2007; Bùi Lâm Gia T1, sinh ngày 13/02/2014 cho ông Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H thỏa thuận không ai cấp dưỡng nuôi con.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Bùi Văn H và bà Lâm Thị Bích N.

Tuyên xử

Chấp nhận yêu cầu nuôi trẻ Bùi Lâm Gia P của bà Lâm Thị Bích N.

1. Buộc ông Bùi Văn H giao trẻ Bùi Lâm Gia P, sinh ngày: 19/8/2019 cho bà Lâm Thị Bích N là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Bùi Văn H và bà Lâm Thị Bích N có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

2. Về tài sản chung : Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Lâm Thị Bích N chịu 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2023/0020406 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N được nhận lại số tiền chênh lệch là 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng. Ông Bùi Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0033850 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.-

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lưu Thị Thủy T2- Nguyễn Hoàng Anh Vũ Tùng L
Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tùng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HN-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 134/2024/HN-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lâm Thị Bích N và ông Bùi Văn H tự nguyện kết hôn vào năm 2006; theo giấy chứng nhận kết hôn số 170; quyển số 05/2004; ngày 03/3/2006 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; bà N và ông H đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà N yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger