|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:134/2023/HS-ST Ngày 02 - 11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Tươi và bà Lương Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng T - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Trần Huy H sinh năm 2000 tại tỉnh Nam Định;
Nơi cư trú: thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết H1 và bà Đinh Thị T1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 31/7/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.
-
Phạm Thị N sinh năm 1996 tại tỉnh Ninh Bình;
Nơi thường trú: phố T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: phố F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H2 và bà Tô Thị H3; có chồng Đinh Văn T2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 31/7/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.
- Người làm chứng: bà Đặng Thị Thu H4 sinh năm 1975; vắng mặt.
- Người chứng kiến: ông Vũ Văn M sinh năm 1961; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Huy H và Phạm Thị N là những người sử dụng ma túy có mối quan hệ tình cảm với nhau. Khoảng 20 giờ ngày 22/07/2023, khi N và H đang ngồi uống nước cùng chị của N tại khu vực thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thì H có nhu cầu sử dụng ma túy. H sử dụng tài khoản Zalo đăng nhập trên điện thoại Iphone X màu trắng lắp sim số 0949.099.982 nhắn tin vào tài khoản Zalo đăng nhập trên điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng lắp sim số 0819.963.535 của N với nội dung “1/2”, N hiểu ý H là mua 01 chỉ ma túy “ke” và 02 viên ma túy “kẹo” để sử dụng. Sau khi uống nước, H sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen xám biển kiểm soát 18D1 - 546.41 chở N đi mua ma túy. Trên đường đi N sử dụng điện thoại Iphone 14 Pro Max gọi điện thoại cho một người tên N1 thông qua ứng dụng T3 (N không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 01 chỉ ma túy “ke” và “02 viên ma túy “kẹo”. Khi N và H đi đến khu vực xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thì N gọi điện cho N1 để lấy ma túy đã đặt mua trước đó. Ninh nhắn tin tài khoản V số 1029792687 cho N nói “chuyển tiền đi đã”, N hiểu ý là chuyển tiền thì N1 mới bán ma túy cho N. Lúc này N chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng của N1 số tiền 4.500.000 đồng gồm 3.000.000 đồng N nợ của N1 trước đó và 1.500.000 đồng tiền mua ma túy (02 viên ma túy “kẹo” giá 500.000 đồng và 01 chỉ ma túy “ke” giá 1.000.000 đồng). Sau khi N chuyển tiền thì N1 chỉ đường cho N đến điểm hẹn tại cột điện thuộc khu vực xã K, huyện Y để lấy ma túy. Đến vị trí hẹn N móc tay vào hộp điện thấy một bọc giấy ăn N mở ra xem thấy có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên dạng nén hình tam giác màu xám, xác định đây là ma túy “kẹo, ke” đã đặt mua, N cầm ma túy và lên xe H rồi đi đến khu vực nhà nghỉ H5 thuộc phố B, phường N, thành phố N để thuê phòng cùng nhau sử dụng ma túy. Trên đường đi N hỏi H “bây giờ bỏ đâu”, ý N là cất giấu ma túy “kẹo, ke” ở đâu, Hoàng lấy bao thuốc lá Thăng L rồi bỏ hết số điếu thuốc trong bao thuốc lá ra ngoài, đưa N vỏ bao thuốc lá này, nói N “bỏ vào đây” ý H nói bỏ số ma túy vừa mua vào trong vỏ bao thuốc lá. N bỏ bọc giấy ăn chứa ma túy “kẹo, ke” vào trong bao thuốc lá T4 rồi cầm ở tay phải. Khi đi đến trước cửa nhà nghỉ H5, N đưa bao thuốc lá Thăng Long này cho H, H cầm bao thuốc lá bên trong có ma túy ở tay trái. Lúc này H nhìn thấy có lực lượng Công an đang đi tuần tra đền gần, sợ bị phát hiện nên H đã bỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có ma túy “kẹo, ke” vào bồn cây trước cửa nhà nghỉ H5. Thấy H và N có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã thu giữ bao thuốc lá nói trên, tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong bao thuốc lá có 01 gói nhỏ bằng giấy dạng giấy vệ sinh màu trắng, mở ra bên trong gói giấy có 02 viên nén màu xám và 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu xanh, kích thước khoảng 2 x 2,5cm chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa N, H cùng vật chứng và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Huy H và Phạm Thị N có khối lượng là 0,88 gam cho vào túi nilon ký hiệu M1, 02 viên nén màu xám có khối lượng 0,355 gam cho vào túi nilon ký hiệu M2. Gửi các mẫu ký hiệu M1, M2 đi giám định để xác định khối lượng ma túy, loại chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 612/KL-KTHS-MT ngày 31/7/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,8721 gam là ma túy, loại Ketamine. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 gồm 02 viên nén màu xám có khối lượng 0,3594 gam là ma túy, loại MDMA. MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,8165 gam là ma túy, loại Ketamine. Chất bột màu xám được nghiền ra từ các viên nén màu xám còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,1815 gam là ma túy, loại MDMA cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 612/KL-KTHS-MT MT theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý đồ vật, tài liệu thu giữ như sau:
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng lắp sim số 0949.099.982; 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng lắp sim số 0819.963.535, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; số ma túy do Cơ quan giám định hoàn trả trong phong bì ghi số 612/KL-KTHS-MT MT cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý để giải quyết cùng vụ án.
Cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố các bị cáo Trần Huy H và Phạm Thị N về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Huy H, Phạm Thị N phạm tội “ tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Huy H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23-7-2023.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị N từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23-7-2023.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy do Cơ quan giám định hoàn trả trong phong bì ghi số 612/KL-KTHS-MT MT cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng lắp sim số 0949.099.982, 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng lắp sim số 0819.963.535
- Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, bị cáo Trần Huy H Phạm Thị N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa các bị cáo H, N đã khai nhận: tối 22/7/2023 khi các bị cáo đang ngồi uống nước cùng chị của bị cáo N tại khu vực thị thị trấn Y, huyện Y thì bị cáo H nhắn tin cho bị cáo N mua ma túy về sử dụng. Bị cáo N sử dụng điện thoại di động liên lạc và mua 1 gói ma túy với giá 1.500.000 đồng của người đàn ông tên N1 (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau đó bị cáo H điều khiển xe mô tô chở bị cáo N đi lấy gói ma túy đá để dưới cột điện thuộc xã K, huyện Y. Sau khi lấy được 01 gói ma túy, bị cáo N lên xe bị cáo H rồi đi đến khu vực nhà nghỉ H5 thuộc phố B, phường N, thành phố N để thuê phòng cùng nhau sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ.
Trong quá trình điều tra người làm chứng là bà Đặng Thị H4 khai báo: ngày 22/7/2023 tại nhà nghỉ H5 ở phường B, thành phố N bà nhìn thấy Công an phường N thu giữ tại vị trí bồn cây trước nhà nghỉ 01 vỏ bao thuốc lá T và tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong bao thuốc lá có 01 gói nhỏ bằng giấy dạng giấy vệ sinh màu trắng; mở ra bên trong gói giấy có 02 viên nén màu xám và 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu xanh, chứa chất dạng tinh thể màu trắng. H và N khai nhận đây là gói ma túy H và N vừa mua về sử dụng nhưng thấy Công an nên H bỏ bao thuốc lá đó vào bồn cây trước cửa nhà nghỉ H5.
Trong quá trình điều tra người chứng kiến là ông Vũ Văn M xác định tối ngày 22/7/2023 ông chứng kiến việc Công an phường N tiến hành kiểm tra bao thuốc lá thu giữ của H và N thì phát hiện bên trong bao thuốc lá có 01 gói nhỏ bằng giấy dạng giấy vệ sinh màu trắng, mở ra bên trong gói giấy có 02 viên nén màu xám và 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu xanh chứa chất dạng tinh thể màu trắng.
Bị cáo Trần Huy H và Phạm Thị N không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai tại phiên tòa của các bị cáo Trần Huy H, Phạm Thị N đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 22/7/2023 tại trước cửa nhà nghỉ H5 tại ngõ F, đường N, phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Trần Huy H và Phạm Thị N có hành vi cất giấu trái phép 0,8721 gam ma túy loại Ketamine và 0,3594 gam ma túy loại MDMA, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi cất giữ trái phép 0,8721 gam ma túy loại Ketamine và 0,3594 gam ma túy loại MDMA của các bị cáo H, N đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;
[3] Hình phạt: Trong vụ án này có hai bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên là đồng phạm có tính chất giản đơn. Vì vậy cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đồng thời xem tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng.
- + Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- - Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo H và N có nhân thân tốt thể hiện chưa có tiền án, tiền sự.
- + Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các bị cáo: bị cáo H là người khởi xướng và sử dụng xe mô tô của bố bị cáo chở bị cáo N đi mua ma túy về sử dụng; bị cáo N người trực tiếp mua ma túy và cất giữ ma túy. Vì vậy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của bị cáo H nghiêm trọng hơn bị cáo N.
Sau khi xem xét về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên các bị cáo H, N phạm tội để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: căn cứ quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử lý các vật chứng như sau:
- - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau khi gửi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì thư “ Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 612/KLGĐ-PC09 -MT”; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L và giấy gói ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì thư là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng;
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng lắp sim số 0949.099.982, 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng lắp sim số 0819.963.535 là tài sản của H, N liên quan đến hành vi phạm tội.
[3] Về các vấn đề khác:
- - Quá trình điều tra xác định chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen xám, biển kiểm soát 18D1 - 546.41 mang tên Trần Huy H nhưng thuộc quyền sở hữa của ông Trần Viết H1, sinh năm 1976, trú tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (bố của Trần Huy H). Năm 2019 ông H1 mua chiếc xe mô tô này nhưng không có bằng lái xe nên ông H1 đã làm giấy tờ đăng ký chiếc xe mang tên Trần Huy H. Ông H1 không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy vào ngày 22/7/2023. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy nói trên cho ông Trần Viết H1 là có căn cứ.
- - Về nguồn gốc số ma túy MDMA và Ketamine thu giữ: Phạm Thị N khai nhận mua của một người tên N1 sử dụng tài khoản ngân hàng V số 1029702687 mang tên NGUYEN VAN NINH. Quá trình xác minh tại ngân hàng V chi nhánh N3 xác định số tài khoản nói trên mang đăng ký tên Nguyễn Văn N2, sinh ngày 21/9/1994, trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Văn N2 để điều tra làm rõ nhưng N2 đều vắng mặt tại địa phương, hiện nay N2 đi đâu, làm gì chính quyền địa phương và gia đình không biết. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra tách phần tài liệu liên quan đến Nguyễn Văn N2 để tiếp tục điều tra làm rõ, đề nghị xử lý sau.
[4]. Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo H và N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố các bị cáo Trần Huy H, Phạm Thị N phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Huy H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23-7-2023.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23-7-2023.
- Xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau khi gửi giám định gồm 0,8165 gam là ma tuy loại Ketamime và 0,1815 gam là ma túy loại MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì ghi “số 612/KL-KTHS-MT phong bì thư, mảnh giấy vệ sinh, túi ni lon ban đầu được niêm phong trong phong bì có ghi thông tin trên; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2.
- + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng lắp sim số 0819.963.535, 01 điện thoại Iphone X màu trắng lắp sim số 0949.099.982 được niêm phong trong phong bì phong bì ký hiệu C2.
- (Vật chứng đã được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-10-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
- Về án phí: bị cáo Trần Huy H, Phạm Thị N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
- Quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02-11-2023).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Phương |
Bản án số 134/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 134/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Huy H và Phạm Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
