Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
________________

Số: 134/2021/DS-PT
Ngày: 23/11/2021
V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤO CAO TẠI HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Phương Hạnh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Điền; Ông Điều Văn Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tú Anh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2021/TLPT-DS ngày 03 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9428/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Ma Văn T; sinh năm 1939; địa chỉ: xóm 4, thôn Ca, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: anh Ma Văn T1; sinh năm 1992; địa chỉ: xóm 4, thôn C, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.
  • * Bị đơn: Bà Trần Thị N; địa chỉ: xóm 4, thôn C, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Viết V; chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang.
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Lệnh T2; chức vụ: Quyền Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang (Văn bản ủy quyền ngày 18/11/2021); vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
    • + Ông Cháng Văn Q (tức Cháng Minh Q); địa chỉ: xóm 4, thôn C, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 02/11/2018; đơn khởi kiện bổ sung ngày 29/11/2018 và quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Ma Văn T trình bày: Ông và bà Trần Thị N tranh chấp 6ha đất vườn rừng tại thôn C, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang. Ông T cho rằng nguồn gốc diện tích đất vườn rừng tranh chấp là của ông cha ông T từ xưa để lại, cụ thể: Đời Thứ nhất là vợ chồng ông Ma Văn I, bà Nông Thị L; đời thứ hai là vợ chồng ông Ma Văn T3, bà Hà Thị C; đời thứ ba là vợ chồng ông Ma Văn V1, bà Lục Thị D (Đ), vợ chồng ông Ma Văn H (đã chết năm 1984), bà Ma Thị T4 (đã chết năm 1991), ông T là con trai ông H và bà T4.

Trước đây bác ông là cụ Ma Văn V1 sử dụng diện tích đất tranh chấp, nhưng ông không biết bác ông sử dụng từ khi nào. Cụ V1 ở cùng con trai là ông Ma Văn Đ1, năm 1942 ông T đến làm con nuôi và ở cùng gia đình ông Ma Văn Đ1. Năm 1962 đoàn người ở dưới xuôi lên khai hoang kinh tế mới, trong đó có vợ chồng cụ Trần Xuân N1 (là bố bà Trần Thị N) đến hỏi mượn đất ruộng của ông V1 ở khu Khuối P thuộc thôn C, xã Vô Đ để làm nhà tạm ở đến nay, ông T không biết cụ N1 mượn bao nhiêu m2 đất của cụ V1 và cũng không có giấy tờ về việc mượn đất giữa cụ V1 và cụ N1. Khoảng năm 1984 cụ N chết, vợ chồng bà N, ông Q tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất đến nay và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu công nhận cho ông Ma Văn T diện tích đất vườn rừng 6,63ha thuộc lô số 143/237, lô số 162/426 Bản đồ 310 tại thôn Ca, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang hiện bà N đang sử dụng; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số SK309323 số 00383 ngày 29/4/1997 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ226866 số H00366 ngày 28/12/2009 do Ủy ban nhân dân huyện Bắc Q cấp cho bà Trần Thị N, ông Cháng Văn Q. Quá trình giải quyết vụ án, ông T khởi kiện bổ sung, yêu cầu bà N phải bồi thường thiệt hại về tài sản, nhưng ông T không xác định được thiệt hại thực tế nên đã có đơn xin rút yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.

Bị đơn là bà Trần Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Cháng Văn Q trình bày: Toàn bộ diện tích đất vườn rừng hơn 6.000m2 tại thôn C, xã Vô Đ là của gia đình ông, bà sử dụng làm kinh tế gia đình không có tranh chấp với ai. Về nguồn gốc diện tích đất rừng nêu trên từ năm 1986 được tỉnh Hà Giang giao đất, giao rừng cho các hộ quản lý. Gia đình ông, bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1997, trong đó gồm diện tích đất ở, đất nông nghiệp và diện tích đất vườn rừng.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo vắng mặt, nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung: Diện tích 6,63 ha đất vườn rừng thuộc lô số 143/237 và lô số 162/426 Bản đồ 310 tại thôn C, xã Vô Đ, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang đang tranh chấp giữa ông T với bà N đã được Ủy ban nhân dân huyện Bắc Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/4/1997 và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị N thửa đất số 151, Tờ bản đồ số 2. Ông T cho rằng toàn bộ 6,63ha đất vườn rừng nêu trên là của ông cha ông khai phá để lại cho con cháu qua nhiều đời, năm 1962 cụ Ma Văn V1 (là bác của ông T) cho cụ Trần Xuân N1 (là bố của bà N) mượn đất sử dụng, sau khi ông N1 chết thì vợ chồng bà N tiếp tục sử dụng đến nay. Tuy nhiên, ông T không đưa ra được các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất trên; ông T và các đời cha ông trước đó của ông T cũng không đăng ký kê khai và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ma Văn T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.
  2. Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Ma Văn T, hoàn trả cho ông Ma Văn T số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số BB/2018/0000076 ngày 15/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Hà Giang;
- Cục THADS tỉnh Hà Giang;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu HS, HCTP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Phương Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2021/DS-PT ngày 23/11/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 134/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/11/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Ma Văn T + Bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger