TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/HS-ST
Ngày 30 ngày 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Văn Sơ
Ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Cà Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Bản S, xã H L, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Cà Văn Liên, sinh năm 1965 và bà Lèo Thị Sâm, sinh năm 1967. Bị cáo có vợ là Lèo Thị Khong, sinh năm 1992. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012 và nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo phiên bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/07/2024 cho đến nay. Có mặt tại tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/01/2024 Cà Văn T gọi điện từ số diện thoại “0348382650” đến số điện thoại “0389.240.xxx” của Cà Văn Đôi rủ Đôi đi chơi ở xã Mường Chanh, huyện Mai Sơn. Đôi đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS: 26B2 – 382.17 tới đón T tại đường thuộc bản San, xã Hua La đến quán “ Bún Phở Khoa Mắn” ở trung tâm bản Cang Mường, xã Mường Chanh ăn cơm, trước khi ăn T gọi điện đến số điện thoại “0963.687.xxx” của Lèo Văn Dũng rủ Dũng đến ăn cùng. Trong khi ăn, T rủ Đôi và Dũng cùng góp tiền mua Hồng phiến về cùng nhau sử dụng và thống nhất T sẽ góp 200.000VNĐ Dũng góp 100.000VNĐ đưa cho Đôi tìm mua Hồng phiến. Đôi nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho một người tên Trung quen qua mạng xã hội Facebook (không biết tên đầy đủ và địa chỉ). Để hỏi mua Hồng phiến nhưng Trung chưa trả lời ngay. Đôi, T, Dũng cũng nhau ăn uống khoảng 30 phút nữa thì nghỉ và đi về nhà Dũng uống nước. Trong khi ngồi uống nước thì Trung nhắn tin đồng ý bán cho Đôi 04 viên Hồng phiến với giá 300.000VNĐ và gửi cho đôi số điện thoại “ 035331185” để liên lạc. Sau đó Đôi nói với T Dũng về việc đã tìm mua được Hồng phiến thì T lấy tiền trong túi áo đang mặc ra đưa cho Đôi 01 tờ tiền mệnh giá 200.000VNĐ, Dũng lấy 01 tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ trong túi áo khoác đưa cho Đôi. Đôi cầm 300.000VNĐ rồi điều khiển xe mô tô BKS: 26B2 – 382.17 đi mua Hồng phiến. Đôi gọi điện thoại liên lạc với Trung qua số “0353315185” thì một người nam giới nghe và hẹn gặp tại khu vực “Nong Ke” thuộc bản Đen để mua bán ma túy. Khi đến điểm hẹn Đôi gặp một người đàn ông đeo khẩu trang (không quen biết) đang đứng chờ, Đôi đưa 300.000VNĐ cho người đàn ông thì người đàn ông chỉ cho Đôi ma túy trong gói nilon màu trắng cách vị trí Đôi đứng khoảng 80cm rồi bỏ đi. Đôi nhặt gói nilon lên kiểm tra thấy bên trong có các viên Hồng phiến (không kiểm tra số lượng viên Hồng phiến) rồi cầm ở tay trái và điều khiển xe đi về nhà Dũng để cùng nhau sử dụng. Trên đường về thì bị tổ công tác Công an xã Mường Chanh phối hợp cùng công an xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Đối với Cà Văn T do chờ lâu không thấy Đôi quay lại nên T đã đi bộ về nhà tại bản San, xã Hua La, thành phố Sơn La. Cùng ngày sau khi biết được việc Đôi và Dũng bị cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, do lo sợ bị bắt nên T đã trốn đến ở lán nương bỏ hoang khu rừng “Tếnh Mường” thuộc bản San, xã Hua La, thành phố Sơn La. Ngày 27/7/2024 T quay về nhà thì bị công an thành phố Sơn La bắt theo lệnh truy nã tại cơ quan điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ trong vụ án.
Tổng khối lượng 03 viên nén màu Hồng là 0,31 gam lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 380 /KLMT ngày 19/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; Loại Methamphetamine khối lượng của mẫu giử giám định là M=0,31 gam.
Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là ,31 gam; Loại Methamphetamine.
2
Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 94/CT-VKSMS ngày 17/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Cà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cà Văn T 16 đến 20 tháng tù.
- Không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng: Đã xử lý vật chứng vụ án tại bản án số 104/2024/HS- ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Bị cáo nhất trí với phần luận tội của kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận ngày 16/01/2024 bị cáo đã góp 200.000VNĐ và Lèo Văn Dũng góp 100.000VNĐ đưa cho Cà Văn Đôi đi mua ma túy, mục đích để cùng sử dụng. Cùng ngày tại bản Đen xã Mường Chanh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, tổ công tác công an xã Mường Chanh phối hợp với tổ công an xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn bắt quả tang Cà Văn Đôi và thu giữ 0,31 gam Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
3
[3] Xét về tính chất:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trên thị trường, bị cáo vẫn cố tình, tàng trữ khối lượng ma túy lớn ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, ông nội của bị cáo là ông Lò Văn Khim được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng của vụ án đã được xử lý tại bản án số 104/2024/HSST ngày 16/7/2024 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
[7] Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc Methamphetamine bị thu giữ bị cáo khai chỉ đưa tiền cho Cà Văn Đôi đi mua, việc đôi đi mua ở đâu của ai bị cáo không biết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cà Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 27/07/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
4
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |
5
Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 133/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ
