|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 133/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29/12/2023.
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NÓC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- *Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc H.
- *Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc C.
- Ông Mạc Vương L.
- * Th ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Viết C1 - Cán bộ T án nhân dân huyện Lục Ngạn.
- *Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
- Ông Hoàng Trung K - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 411/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/ QĐXX - ST ngày 04 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2023/ QÐST- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị B, sinh năm 1990 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- * Bị đơn: Anh Lý Văn B1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 07/9/2023, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hoàng Thị B trình bày:
Chị và anh Lý Văn B1 kết hôn với nhau từ ngày 08/10/2007. Trớc khi kết hôn anh chị có đợc tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Chị Hoàng Thị B xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh vào khoảng đầu năm 2023 (Dương lịch), nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên đời sống không hạnh phúc. Nay chị xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn B1.
- * Về con chung: Chị Hoàng Thị B xác định vợ chồng có 02 con chung là Lý Thị T1, sinh ngày 26/10/2008 và Lý Huy K1, sinh ngày 03/4/2012, hiện cháu T1 đang ở cùng chị Hoàng Thị b, cháu K1 ở cùng anh Lý Văn B1. Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị B có nguyện vọng được nuôi cháu T1, để anh Lý Văn B1 nuôi cháu K1, chị không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- * Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hoàng Thị B xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- * Tại bản tự khai ngày 22/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lý Văn B1 trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị B kết hôn với nhau từ ngày 08/10/2007. Trớc khi kết hôn anh chị có đợc tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Anh Lý Văn B1 xác định vợ chồng đã mâu thuẫn từ cuối năm 2021, nguyên nhân do anh nghi ngờ chị Hoàng Thị B ngoại tình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, không bảo ban được nhau. Chị B tự ý bỏ về nhà ngoại tại thôn B, xã N, huyện L Vợ chồng ly thân từ tháng 6/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai sinh sống. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị Hoàng Thị B xin ly hôn tôi đồng ý.
- * Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lý Thị T1, sinh ngày 26/10/2008 và cháu Lý Huy K1, sinh ngày 03/4/2012. Hiện cháu T1 đang ở cùng chị Hoàng Thị B, cháu K1 ở cùng anh. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu K1, để chị Hoàng Thị B nuôi cháu T1, không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- * Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị Hoàng Thị B không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- * Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị B và bị đơn là anh Lý Văn B1 vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng nh giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đơng sự theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 28; Điều 35; khoản 4 điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị B được ly hôn với anh Lý Văn B1.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho chị Hoàng Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lý Thị T1, sinh ngày 26/10/2008; Giao cho anh Lý Văn B1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lý Huy K1, sinh ngày 03/4/2012. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Chị Hoàng Thị Ba p chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Hoàng Thị B khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Lý Văn B1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K ngày 08/10/2007, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 là hợp pháp. Quá trình chung sống: Chị Hoàng Thị B xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên đời sống không hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn B1.
Anh Lý Văn B1 cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do anh nghi ngờ chị Hoàng Thị B ngoại tình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, không bảo ban được nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 6/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị B tự ý bỏ về nhà ngoại tại thôn B, xã N, huyện L sinh sống. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị Hoàng Thị B xin ly hôn tôi đồng ý.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt thì chị Hoàng Thị B vẫn giữ nguyên lời khai đã trình bày đề nghị Hội đồng xét xử cho ly hôn với anh Lý Văn B1. Mặc dù chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 đưa ra các nguyên nhân khác nhau nhưng cả hai đều xác định không có tiếng nói chung và tình nghĩa vợ chồng đã không còn. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị B, cho chị Hoàng Thị B được ly hôn với anh Lý Văn B1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Về con chung: Chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Lý Thị T1, sinh ngày 26/10/2008 và Lý Huy K1, sinh ngày 03/4/2012. Chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 thỏa thuận vợ chồng ly hôn chị Hoàng Thị B là người trực tiếp nuôi cháu Lý Thị T1; anh Hoàng Văn B2 là người trực tiếp nuôi cháu Lý Huy K1. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1, giao cho chị Hoàng Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Thị T1, sinh ngày 26/10/2008; giao cho anh Lý Văn B1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Huy K1, sinh ngày 03/4/2012; Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung, chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn Ba c xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị Ba p chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 28; Điều 35; khoản 4 điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị B.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị B được ly hôn với anh Lý Văn B1.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho chị Hoàng Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Thị T1, sinh ngày 26/10/2008; Giao cho anh Lý Văn B1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Huy K1, sinh ngày 03/4/2012. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị B và anh Lý Văn B1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Ba p chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Hoàng Thị B đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000529 ngày 24/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, chị Hoàng Thị B không phải nộp án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 133/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 133/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
