Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/DS-PT

Ngày: 28/8/2024

V/v: Kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSD đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các thẩm phán: Bà Trần Thị Nhài và bà Nguyễn Thị Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/8/2024 và 28/8/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2023/DS-PT ngày 23/10/2023 về việc kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo, kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐ-PT ngày 03/01/2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tôn Minh P, sinh năm 1977; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt; uỷ quyền cho ông Phan Quang H; sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt; uỷ quyền cho ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ A, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên và bà Trần Phương T, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Vũ Vinh Q, sinh năm 1977; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt; uỷ quyền cho ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ A, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên và bà Trần Phương T, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  3. Bà Tôn Kim N, sinh năm 1960; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt; uỷ quyền cho ông Vũ Vinh Q, sinh năm 1977; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  4. Công ty TNHH T4; địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1996; Chức vụ: Giám đốc Công ty; có mặt.
  5. Ông Trần Văn V, sinh năm 1979; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt
  6. Ông Ngô Văn C, sinh năm 1970; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Bùi Thị Q1, sinh năm 1967; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Tôn Minh P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Vinh Q và đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Bà Tôn Minh P và bà Tôn Kim N là hai chị em ruột được mẹ đẻ là cụ Phạm Thị S tặng cho một số thửa đất, trong đó bà P được tặng cho thửa đất số 38 tờ bản đồ số 22; bà N được tặng cho thửa đất số 26 tờ bản đồ số 22 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, 02 thửa đất có vị trí liền kề nhau. Thửa đất số 26 trước đây là đồi cao, liền với đồi trồng keo thuộc thửa 38 của bà P, thuộc lô 2 phía sau khu đất bám mặt đường quốc lộ 1B. Lô 1 là đất bà N đã bán cho gia đình ông D từ trước. Trên thửa đất số 26 của bà N có hai ngôi mộ của các cụ trong gia đình, nên bà N đã ủy quyền cho bà P trông nom, lo hương khói 2 ngôi mộ và có toàn quyền sử dụng, mua bán thửa đất này, đồng thời bà N đã đưa bìa đỏ thửa đất số 26 của bà N cho bà P giữ. Vợ chồng bà P đã trồng keo trên thửa đất số 26 từ khoảng năm 2007, cùng với đồi keo của bà P thuộc thửa 38.

Ngày 20/3/2014 bà N viết giấy ủy quyền cho bà P, nội dung giao toàn quyền cho em gái ruột là Tôn Minh P sử dụng, san lấp và mua bán thửa 26, tờ bản đồ số 22, diện tích 1.418 m². Năm 2015, vợ chồng bà P thuê máy xúc san gạt toàn bộ thửa 26 của bà N và một phần thửa 38 của bà P, có độ cao trung bình từ mặt đất lên đỉnh đồi từ 26 đến 30 mét, đá gan trâu rất khó khăn trong việc san lấp, tiền mua dầu máy, thuê xe vận chuyển đổ đất đá đi chỗ khác hết khoảng 150 triệu đồng; tiền thuế môi trường hết 12 triệu đồng.

Năm 2016, sau khi vợ chồng bà P san phẳng quả đồi thửa 26 của bà N và di dời 2 ngôi mộ của các cụ đi nơi khác, thì ông D có nhu cầu mua thửa đất số 26 của bà N, nên đã sang hỏi bà P để mua. Người đứng ra giao dịch mua bán thửa 26 với ông D là vợ chồng bà P, hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 250.000.000đ, vợ chồng bà P đã nhận đủ tiền từ vợ chồng ông D và bà P đã giao bìa đỏ của bà N cho ông D đi làm Hợp đồng chuyển nhượng tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do bìa đỏ mang tên bà Tôn Kim N, nên khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D phải do vợ chồng bà N ký, nên bà N ra UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ký Hợp đồng chuyển nhượng đất với vợ chồng ông D. Hợp đồng chuyển nhượng ghi giá chuyển nhượng QSD thửa đất số 26, thửa 52 tờ bản đồ số 22 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là 50.000.000đ để giảm thuế chuyển nhượng cho ông D, thực tế bà N không nhận bất cứ khoản tiền nào từ gia đình ông D.

Sau khi nhận chuyển nhượng xong thửa đất số 26 của bà N, gia đình ông D đổ bê tông vào thửa đất số 26 và hỏi bà P cho mượn một phần thửa đất số 38 của bà P liền kề để làm mặt bằng chứa vật liệu xây dựng. Khoảng năm 2018, ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 26, ông D làm nhà xưởng lên thửa đất số 26 và làm nhà xưởng lấn sang một phần thửa đất số 38 hỏi mượn của bà P. Bà P nhắc nhở nhiều lần, nhưng ông D lảng tránh. Năm 2019, ông D tiếp tục xây dựng nhà xưởng kiên cố hơn trên phần đất thửa 38, bà P có ý kiến gay gắt thì ông D nói thửa đất 38 của bà P, ông D đã nhận chuyển nhượng.

Bà P cho rằng không chuyển nhượng thửa đất số 38 cho ông D mà chỉ chuyển nhượng thửa đất số 26 mang tên bà N cho ông D với giá 250.000.000 đồng. Bà P yêu cầu Toà án buộc ông D và Công ty TNHH T4 phải tháo dỡ công trình xây dựng, tài sản trên đất trả cho bà P phần đất lấn chiếm thuộc thửa 38, tờ bản đồ số 22, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Tôn Minh P.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1, Công ty TNHH T4 và đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Năm 2016, bà Tôn Kim N thoả thuận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn D thửa đất số 26 và thửa số 52, tờ bản đồ số 22, tổng diện tích 1.462m² thuộc xóm Đ, xã H, Đ, Thái Nguyên với giá 50.000.000đ. Ông D đã thanh toán đầy đủ tiền cho bà N và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất này.

Cũng trong năm 2016, bà Tôn Minh P, ông Vũ Vinh Q có nhu cầu bán thửa đất số 38, tờ bản đồ số 22 đứng tên bà Tôn Minh P. Vợ chồng bà P, ông Q viết giấy bán đất không đề ngày tháng năm, không có diện tích, nội dung:

“Tên tôi là Tôn Minh P có bán cho anh D, chị H1 một mảnh đất lô 2 tờ bản đồ số 22 với số tiền là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), ngày 27/7/2016 ông D bà H1 đã thanh toán trước 50.000.000đ, số còn lại 200.000.000đ, hẹn tháng 02/2017 ông D thanh toán hết số tiền trên cho bà Tôn Minh P” hai bên ký cam kết giao nhận đầy đủ tiền, người bán ký tên Tôn Minh P, người mua ký tên Nguyễn Văn D. Dòng cuối có xác nhận của bà trưởng xóm đề ngày 29/8/2016, mang tên Bùi Thị Q1”.

Ông D đã trả tiền cho bà P vào các lần: Lần 1 trả 50.000.000 đồng vào ngày 27/7/2016, có chữ ký nhận tiền của bà P; Lần 2 trả 50.000.000 đồng vào ngày 29/8/2016 có chữ ký nhận tiền của ông Q; Lần 3 trả 50.000.000 đồng vào ngày 05/5/2017, có chữ ký nhận tiền của vợ chồng bà P, ông Q; Lần 4, số tiền còn lại 100.000.000₫ đối trừ vào khoản nợ 64.839.000₫ là tiền sắt thép, vợ chồng bà P đã mua của gia đình ông D từ trước, còn lại 35.161.000đ, ông D thanh toán nốt cho ông Q có chữ ký nhận tiền của ông Q trả vào ngày 23/9/2018.

Sau khi ký giấy bán đất, vợ chồng bà P đã thuê giúp máy xúc để xúc đất, san phẳng độ cao của thửa đất. Sau đó gia đình ông D đổ bê tông toàn bộ phần đất vợ chồng bà P đã cắm cọc, xây hàng rào chỉ định ranh giới thửa đất mà gia đình ông D đã mua. Thời gian sau, ông D nhiều lần yêu cầu bà P bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ông D hoàn tất thủ tục sang tên nhưng không được vợ chồng bà P chấp thuận, trong thời gian này, gia đình ông D đã xây dựng công trình nhà xưởng sản xuất trên phần đất bà P chỉ định và công trình được hoàn thành vào năm 2018. Đầu năm 2019, công trình nhà xưởng đi vào sử dụng mới xảy ra tranh chấp. Nguyên nhân tranh chấp, do bà P đòi phần đất phía trước của ông D không được nên quay ra đòi thửa đất này với lý do vợ chồng bà P chỉ bán cho gia đình ông D thửa 26 của bà N, nhưng việc ông D nhận chuyển nhượng thửa số 26 và thửa số 52 của bà N, ông D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà P khởi kiện cho rằng gia đình ông D lấn chiếm khoảng 900m² đất thuộc thửa 38, tờ bản đồ số 22, vợ chồng ông D không chấp nhận vì nếu ông D không mua thì làm sao vợ chồng bà P, ông Q để cho gia đình ông D làm xưởng gần một năm mới hoàn thành mà không có bất cứ một ý kiến gì.

Ông D có đơn phản tố đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 38, tờ bản đồ số 22 theo giấy mua bán viết tay ngày 27/7/2016. Yêu cầu vợ chồng bà P phá dỡ hàng rào ngăn cách, trả lại cho gia đình ông toàn bộ diện tích đất phía sau của thửa 38 tờ bản đồ số 22 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Đại diện Công ty TNHH T4, bà Nguyễn Thị M trình bày:

Công trình nhà xưởng được xây dựng trên thửa đất số 38 là tài sản của Công ty TNHH T4, được xây dựng năm 2018 và hoàn thiện đi vào hoạt động từ đầu năm 2019. Diện tích nhà xưởng xây dựng một phần xây trên thửa 26, một phần trên thửa 38. Lý do, năm 2016 ông D đã mua thửa 26 và thửa 38 của bà N và bà P từ đó tới nay sử dụng, quản lý, không xảy ra tranh chấp. Đề nghị Tòa án giải quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Công ty.

Ông Trần Văn V trình bày:

Tháng 9/2017, ông có hỏi bà P cho mượn phần đất trống sau nhà bà P để trồng rau nuôi gà, ở phần đất trống nhà bà P còn có một phần nữa theo bà P nói là cho ông D mượn để tập kết vật liệu. Ông đã thuê thợ là ông Nguyễn Văn T1 xây 02 bức tường ngăn phía sau đất bà P song song với đường QL 1B cũ đến sát đất của ông D mua lại của ông T2 bà T3, dài 14 mét và 01 bức tường gạch xây vuông góc với bức tường trên dài 30 mét. Phần đất còn lại gia đình ông D vẫn đang mượn của gia đình bà P để sử dụng. Trong quá trình xây hàng rào gia đình ông D không có ý kiến gì. Nay Tòa án đang giải quyết vụ án đề nghị Tòa án xem xét phần tường ông xây dựng ngoài ra còn có cột sắt mái tôn, cây ăn quả, đề nghị xem xét quyền lợi của ông.

Người làm chứng bà Bùi Thị Q1 khai:

Bà là Trưởng xóm Đ, nơi gia đình bà P và gia đình ông D cùng sinh sống. Bà có biết hai gia đình xảy ra tranh chấp về đất đai từ năm 2019. Nội dung tranh chấp ban đầu bà được mời giải quyết ở cấp xóm là tranh chấp phía mặt đường ở chỗ một bên cho rằng chiều rộng 4m, một bên cho rằng chiều rộng 5m nhưng là về phần đất khác, không liên quan đến chỗ tranh chấp hiện nay. Sau đó, bà lại được mời tham gia giải quyết chỗ đất hiện nay hai gia đình đang tranh chấp. Trước đó, bà thấy giữa hai gia đình có mối quan hệ rất tốt đẹp, thân thiết với nhau. Về chữ viết và chữ ký mang tên Bùi Thị Q1 ký ngày 29/8/2016 ở phía cuối trang của tờ giấy có tiêu đề “Giấy bán đất” đúng là chữ viết và chữ ký của bà. Giấy này do ông D cầm sang nhà bà xin xác nhận, bà không được trực tiếp chứng kiến giao dịch giữa các bên có tên trong giấy như thế nào. Ông D cầm giấy sang nói là đã mua mảnh đất phía sau của bà N và xin chữ ký xác nhận của bà. Với tư cách là trưởng xóm, bà thấy có bên mua và bên bán đã ký thì bà ký. Việc bà ký diễn ra vào cùng ngày bà ghi trong giấy. Khi ký, bà không để ý kỹ chữ ký là của bà N hay của bà P, bà chỉ thấy ông D nói là đã mua xong thì bà ký. Bà không rõ giữa hai gia đình thỏa thuận mua bán đất đai như thế nào.

Tại bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Tôn Minh P yêu cầu ông Nguyễn Văn D và Công ty TNHH T4 phải tháo dỡ công trình xây dựng và di dời tài sản trên đất để trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà P.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D, công nhận “Giấy bán đất” được bà Tôn Minh P, ông Vũ Vinh Q và ông Nguyễn Văn D thỏa thuận ngày 27/7/2016 đối với diện tích đất được Công ty TNHH H2 đo thực tế là 965,3 m² tại thửa số 38, tờ bản đồ số 22 thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (loại đất trồng cây lâu năm). Công nhận 965,3 m² thuộc thửa số 38, tờ bản đồ số 22 thuộc TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (loại đất trồng cây lâu năm) là của ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1 (có trích lục sơ đồ kèm theo)
  3. Không chấp nhận một phần phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn D đối với bà Tôn Minh P về việc phá dỡ hàng rào ngăn cách để trả lại cả thửa đất số 38, tờ bản đồ số 22 cho gia đình ông D.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 02/10/2023, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Tôn Minh P và bị đơn ông Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Nội dung kháng cáo, nguyên đơn cho rằng: Toà án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng một phần thửa đất số 38, tờ bản đồ số 22, ông D và Công ty TNHH T4 đã lấn chiếm theo giấy bán đất viết tay đề ngày 22/7/2016, giữa bà P với ông D trong đó không rõ số thửa, diện tích, tờ bản đồ là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ án sơ thẩm.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D đề nghị Hội đồng xét xử công nhận toàn bộ diện tích đất lô 2 thửa 38, tờ bản đồ số 22 theo giấy bán đất viết tay đề ngày 22/7/2016, giữa bà P với ông D.

Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 02/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và nội dung trình bày tại cấp sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên nội dung kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Tôn Minh P; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên theo hướng bác đơn phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn D, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Minh P, buộc bà H1, ông D và Công ty TNHH T4 trả lại diện tích đất lấn chiếm tại thửa đất số 38 theo kết quả xem xét thẩm định lại của Toà án cấp phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo trong hạn luật định; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ kháng nghị trong hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Về thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

[2] Ngày 21/8/2016, vợ chồng bà Tôn Kim N, ông Nguyễn Văn Q2 và vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 22, diện tích 1418 m2 và thửa đất số 52, tờ bản đồ số 22, diện tích 44 m2 tại xóm Đ, xã H (nay là thị trấn H), huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 50.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất nêu trên được UBND xã H, huyện Đ chứng thực ngày 31/8/2016. Ngày 23/4/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 26, diện tích 1.418 m2 mang tên ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1.

[3] Tại Giấy bán đất không đề ngày, tháng, không có số thửa, diện tích chuyển nhượng, có nội dung bà Tôn Minh P bán cho ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1 một mảnh đất lô II, tờ bản đồ số 22, tại xóm Đ, xã H, huyện Đ với giá 250.000.000 đồng. Ngày 27/7/2016, ông D, bà H1 đã thanh toán trước 50.000.000 đồng, số còn lại 200.000.000 đồng hẹn đến tháng 02/2017, ông D thanh toán hết cho bà Tôn Minh P.

Ông Q2, bà P thừa nhận chữ viết trong Giấy bán đất nêu trên do ông Q2 viết, chữ ký bên mua, bên bán do ông Nguyễn Văn D, bà Tôn Minh P ký.

[4] Ông Q2, bà P cho rằng giấy bán đất lô 2, giá 250.000.000 đồng là thoả thuận chuyển nhượng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 22 do bà Tôn Kim N uỷ quyền cho bà P chuyển nhượng. Ông D, bà H1 cho rằng Giấy bán đất lô 2, giá 250.000.000 đồng nêu trên, hai bên thoả thuận chuyển nhượng phần đất lô 2 của thửa đất số 38 mang tên bà Tôn Minh P, còn thoả thuận chuyển nhượng thửa đất số 26 và thửa đất số 52 giá 50.000.000 đồng là thoả thuận với bà Tôn Kim N chị gái bà P. Xét thấy:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 26, 52, tờ bản đồ số 22, giữa ông D, bà H1 với ông Q2, bà N được UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên chứng thực ngày 31/8/2016; được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà H1 ngày 23/4/2018. Trong khi việc thoả thuận chuyển nhượng mảnh đất lô 2 giá 250.000.000 đồng, bên chuyển nhượng là bà P, ông Q2 nhận số tiền làm nhiều lần, trong đó ngày 05/5/2017, nhận 50.000.000 đồng sau khi Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 26 đã được UBND xã H chứng thực và số tiền còn lại 100.000.000đ đối trừ vào khoản nợ 64.839.000₫ là tiền sắt thép, vợ chồng bà P đã mua của gia đình ông D từ trước, còn lại 35.161.000đ, ông D thanh toán nốt cho ông Q2 vào ngày 23/9/2018 sau khi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà H1.

Bà P, ông Q2 cho rằng thoả thuận chuyển nhượng thửa đất số 26 với giá 250.000.000 đồng, nhưng ông Q2, bà P không lý giải được vì sao sau khi ông D, bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 26 vào ngày 23/4/2018, đến ngày 23/9/2018 ông D bà H1 mới thanh toán hết tiền cho ông Q2, bà P. Do đó, bà P, ông Q2 cho rằng Giấy bán đất lô 2, giá 250.000.000 đồng là thoả thuận chuyển nhượng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 22 theo hợp đồng đã ký giữa vợ chồng ông Q2, bà N với vợ chồng ông D, bà H1 là không có căn cứ.

Về hiện trạng sử dụng thửa đất tranh chấp:

[5] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án cấp phúc thẩm xác định: Diện tích đất thuộc thửa 38, tờ bản đồ số 22, ông D và Công ty TNHH T4 đổ nền bê tông, xây dựng nhà xưởng, xây tường gạch chắn nước từ trên đồi xuống tổng cộng là 752,6 m2, trong đó xây dựng nhà xưởng kiên cố để sản xuất, chế biến thép là 368,1 m2; nền bê tông bên ngoài của nhà xưởng lợp mái tôn là 150,9 m2.

Quá trình đổ nền bê tông từ năm 2016, xây dựng nhà xưởng diễn ra từ đầu năm 2019, nhưng phía ông Q2, bà P không có ý kiến gì, không yêu cầu chính quyền địa phương lập biên bản về hành vi xây dựng trái phép, lấn chiếm đất. Chỉ sau khi có việc tranh chấp phần đất mặt đường quốc lộ 1b với gia đình ông D, gia đình bà P mới phát sinh tranh chấp phần đất ông D xây dựng nhà xưởng. Bà P khởi kiện yêu cầu ông D, bà H1 và Công ty T4 tháo dỡ nhà xưởng, công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích đất thửa 38 là không có căn cứ.

Xét yêu cầu phản tố và nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn D về việc công nhận thoả thuận chuyển nhượng phần đất phía sau thửa đất số 38 theo Giấy bán đất giá 250.000.000 đồng, giữa bà H1, ông D với bà P, thấy:

[6] Giấy bán đất giữa bà P với ông D, bà H1 các bên thoả thuận chuyển nhượng mảnh đất lô 2, tờ bản đồ số 22, giá 250.000.000 đồng. Theo giấy bán đất này, các bên không thoả thuận về vị trí, diện tích đất chuyển nhượng thuộc thửa nào. Tuy nhiên, căn cứ vào diện tích đất ông D xây dựng nhà xưởng, sử dụng trên thực tế từ năm 2019 là 752,6 m2, phần đất này tiếp giáp với tường gạch do ông V xây năm 2016 và phần phía sau là đồi cao chưa san ủi vẫn do gia đình bà P quản lý, sử dụng. Nên có căn cứ xác định diện tích đất chuyển nhượng là diện tích đất thực tế ông D, bà H1 đã sử dụng.

[7] Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: ... 1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;”.

[8] Diện tích đất 752,6 m2 thuộc thửa 38, tờ bản đồ số 22 ông D đã nhận đất, sử dụng và trả số tiền 250.000.000 đồng là đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo thoả thuận. Toà án cấp sơ thẩm công nhận phần đất ông D đã sử dụng theo thực tế là có căn cứ. Tuy nhiên, án sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho ông D 965,3 m² là chưa đúng với hiện trạng sử dụng đất thực tế của ông D. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án cấp phúc thẩm, xác định diện tích đất ông D, bà H1 sử dụng là 752,6 m2, nên sửa lại số liệu diện tích của án sơ thẩm.

[9] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn; có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Về án phí:

[10] Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các đương sự không được chấp nhận, nên các đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[11] Án phí sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất công nhận cho ông D, bà H1.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, mỗi bên phải chịu 3.200.000 đồng chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm (đã thực hiện xong).

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Tôn Minh P và một phần kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên như sau:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 166, Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Minh P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn D và Công ty TNHH T4 tháo dỡ công trình xây dựng và di dời tài sản, trả lại 752,6 m2 đất tại thửa số 38, tờ bản đồ số 22 thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D đối với bà Tôn Minh P về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy bán đất” giữa bà Tôn Minh P với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1.
    1. Công nhận ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1 được quyền sử dụng 752,6 m2 đất tại thửa số 38, tờ bản đồ số 22 thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/6/2011 mang tên bà Tôn Minh P (Có sơ đồ chi tiết kèm theo là các điểm: 34, 35, 36, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 33, 34).
    2. Các đương sự có quyền liên hệ với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để đăng ký quyền sử dụng đất theo quyết định của Bản án.
  3. Về án phí:
    1. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0006983 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Bà Tôn Minh P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn trả 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0006975 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
    2. Án phí sơ thẩm: Bà Tôn Minh P phải chịu 2.032.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0016547 ngày 07/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, còn phải nộp 1.732.000 đồng.
  4. Về chi phí tố tụng: Bà Tôn Minh P, ông Nguyễn Văn D, mỗi người phải chịu 3.200.000 đồng chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm (đã thực hiện xong).
  5. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện Đồng Hỷ;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Hoàng Quý Sửu

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp hđ chuyển nhượng qsd đất

  • Số bản án: 133/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Minh P về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn D và Công ty TNHH T4 tháo dỡ công trình xây dựng và di dời tài sản, trả lại 752,6 m2 đất tại thửa số 38, tờ bản đồ số 22 thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. 2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D đối với bà Tôn Minh P về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy bán đất” giữa bà Tôn Minh P với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger