Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/5/2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thục

Bà Nguyễn Thị Bích

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 27/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/02/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đàm Thị M, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)

HKTT: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện nay: Số nhà B đường Q, huyện T, thị trấn M, thành phố Đ, Đài Loan

- Người đại diện nhận văn bản tố tụng: Ông Đàm Văn S, sinh năm 1966;

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn

* Bị đơn: Anh Lý Văn V, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh V tại Việt Nam: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Anh V hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 (xin vắng mặt)

1

Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Đàm Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Văn V kết hôn với nhau ngày 08/10/2010, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng kể từ năm 2017 đến nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi nhau, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Sau đó anh chị có đi lao động tại Đài Loan nhưng không sống chung cùng nhau và đến nay anh chị đã sống ly thân được 6 năm. Đến nay anh chị đã không còn liên lạc với nhau nữa, theo chị được biết thì anh V hiện nay vẫn sinh sống tại Đài Loan nhưng đang là lao động bất hợp pháp nên không có địa chỉ cụ thể. Đến nay vợ chồng đã bất đồng quan điểm sống không thể hàn gắn. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Lý Văn V được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lý Nhật T, sinh ngày 17/6/2013. Hiện nay anh chị đều ở nước ngoài nên cháu T đang sống cùng bà nội là bà Nguyễn Thị N. Khi Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giao cháu Lý Nhật T cho anh Lý Văn V trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà nội là Nguyễn Thị N nuôi dưỡng trong thời gian anh V ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị tự nguyện cấp dưỡng cho cháu V số tiền 2.000.000đồng / 1 tháng.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

* Bị đơn là anh Lý Văn V hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh V đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh V.

* Bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Lý Văn V. Anh V hiện nay đang không có mặt tại địa phương và đi làm việc tại Đài Loan. Anh V ở nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ cụ thể của anh V ở Đài Loan thì bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Chị M có đơn ly hôn thì anh V không có ý kiến gì.

Vợ chồng anh V, chị M có 01 con chung là cháu Lý Nhật T, sinh ngày 17/6/2013. Vợ chồng anh V, chị M đều đi nước ngoài, cháu T từ nhỏ đều do bà chăm sóc nuôi dưỡng và hiện nay cháu T vẫn đang ở cùng bà. Bố cháu vẫn thường xuyên quan tâm và gọi điện hỏi han, chu cấp cho cháu. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn của vợ chồng anh V, chị M, bà đề nghị Tòa án giao cháu Lý Nhật T cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng và giao cho bà nuôi cháu T khi anh V ở nước ngoài.

2

* Tòa án đã làm việc với cháu Lý Nhật T thì cháu có nguyện vọng được ở cùng bố V và mong muốn tiếp tục được ở với bà nội.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M và bà N xin vắng mặt giữ nguyên ý kiến. Anh V vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị M. Xử:

Cho chị Đàm Thị M được ly hôn anh Lý Văn V.

Về con chung: Giao cháu Lý Nhật T cho anh Lý Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cháu T cho bà Nguyễn Thị N nuôi dưỡng trong thời gian anh V ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng chị Đàm Thị M cấp dưỡng nuôi cháu Lý Nhật T 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu T khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Đàm Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đàm Thị M đang sinh sống ở nước ngoài có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Lý Văn V. Bị đơn anh Lý Văn V có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 7175/QLXNC-P3 ngày 10/4/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Lý Văn V đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 07/8/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về

3

nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn và bị đơn được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị M và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của anh V xác định hiện anh V đang ở nước ngoài không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh V ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Đây là trường hợp bị đơn có tính giàu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã niêm yết tống đạt thông báo các văn bản tố tụng cho anh V theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị M và anh Lý Văn V kết hôn với nhau ngày 08/10/2010 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị V, anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh V. Xem xét đơn khởi kiện của chị M, HĐXX thấy: chị M xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân với nhau, không liên lạc với nhau. Anh V và chị M đều đang ở nước ngoài nhưng vợ chồng sống xa cách không chung sống cùng nhau, chị M xác định anh V ở nước ngoài. Vì vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh V.

[4]. Về con chung: Chị M và anh V có 01 con chung là cháu Lý Nhật T, sinh ngày 17/6/2013 hiện đang ở cùng bà nội là Nguyễn Thị N và cháu có nguyện vọng được ở với bố và tiếp tục ở cùng bà nội. Bản thân anh V và chị M hiện nay đều đang ở nước ngoài và chị M đồng ý đề nghị Tòa án giao cháu T cho anh V nuôi dưỡng và tạm giao cho bà N chăm sóc nuôi dưỡng cháu T trong thời gian anh V ở nước ngoài. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh V được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu T. Do hiện nay anh V đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu T cho bà N chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian anh V ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị M có ý kiến đồng ý tự nguyện cấp dưỡng cho cháu T mỗi tháng 2.000.000 đồng. Bà N đồng ý với ý kiến của chị M. Xét đề nghị của chị M là tự nguyện và mức cấp dưỡng phù hợp với quy định pháp

4

luật nên HĐXX chấp nhận đề nghị của chị M về việc chị M cấp dưỡng nuôi cháu T 2.000.000 đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu T khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, chị M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị M không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Đàm Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị M được ly hôn anh Lý Văn V.
  2. Về con chung: Giao cháu Lý Nhật T, sinh ngày 17/6/2013 cho anh Lý Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Lý Văn V về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đàm Thị M cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, chị M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

5

  1. Về án phí: Chị Đàm Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001018 ngày 29/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Chị M còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
  2. Về quyền kháng cáo:
    • - Chị Đàm Thị M, anh Lý Văn V hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Bà Nguyễn Thị N cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Hồ Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;
  • - UBND xã Tam Dị, huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 133/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mơ ly hôn Vũ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger