Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 133/2024/DS-ST
Ngày: 26/4/2024
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Diệu Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Bùi Thị Thúy Hiền
  • Ông Bùi Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Hà, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 170/2024/TLST-DS, ngày 12/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4602/2024/QĐXXST-DS, ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua bán nợ W.
  2. Địa chỉ: Số 4xx đường Đ, Phường N, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

    • Ông Trần Văn T
    • Ông Ngô Vĩnh N1
    • Ông Nguyễn Ý Q

    Cùng là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 150/2023/UQ-WDTC ngày 22/11/2023).

    Cùng địa chỉ: Tầng 3 Tòa nhà B, số 4xx đường Đ, Phường N, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Lê Thị Kim T1, sinh năm 1990.
  4. Địa chỉ: Số 9x/xx/x đường P, phường B1, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Ông Nguyễn Ý Q và bà Lê Thị Kim T1 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/11/2023, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn – Công ty TNHH Mua bán nợ W có ông Nguyễn Ý Q là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty TNHH Mua bán nợ W (Sau đây gọi tắt là nguyên đơn) đã ký Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số: 27xx/202x/TTCN/MAFC-W ngày 20/6/2022 với Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) về khoản nợ của bà Lê Thị Kim T1 (Sau đây gọi tắt là bị đơn).

Bà Lê Thị Kim T1 và Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) đã ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021. Theo đó, Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) đã cho bà Lê Thị Kim T1 vay tiền với các nội dung sau:

  • Số tiền vay: 31.650.000 (Ba mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng;
  • Thời hạn: 24 (Hai mươi bốn) tháng;
  • Lãi suất: 50%/năm;
  • Mục đích vay: Tiêu dùng sinh hoạt phục vụ đời sống.

Kể từ ngày 15/8/2021, bà Lê Thị Kim T1 đã không thanh toán mặc dù Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) (Sau đó là Công ty TNHH Mua bán nợ W) đã thực hiện nhắc nhở thanh toán nhiều lần. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 26/4/2024, bà Lê Thị Kim T1 cần phải thanh toán là: 63.584.547 (Sáu mươi ba triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó:

  • Số tiền nợ gốc: 24.381.766 (Hai mươi bốn triệu ba trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng.
  • Số tiền nợ lãi: 39.202.781 (Ba mươi chín triệu hai trăm lẻ hai nghìn bảy trăm tám mươi mốt) đồng.

Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết, kế hoạch trả nợ của bà Lê Thị Kim T1 đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký. Nay Công ty TNHH Mua bán nợ W đề nghị Tòa án xem xét:

  1. Buộc bà Lê Thị Kim T1 có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Công ty TNHH Mua bán nợ W toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021 đã ký sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: 63.584.547 (Sáu mươi ba triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó:
    • Số tiền nợ gốc: 24.381.766 (Hai mươi bốn triệu ba trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng
    • Số tiền nợ lãi: 39.202.781 (Ba mươi chín triệu hai trăm lẻ hai nghìn bảy trăm tám mươi mốt) đồng
  2. Trong thời gian chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ, bà Lê Thị Kim T1 vẫn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn, lãi chậm trả theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Bị đơn bà Lê Thị Kim T1 trình bày:

Theo đơn khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ W buộc bị đơn phải thanh toán 1 lần số tiền cả gốc lẫn lãi là 63.584.547 (Sáu mươi ba triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy) đồng thì bị đơn trình bày như sau:

Công ty W chưa nhắc nợ bị đơn lần nào và đến khi nhận giấy hẹn của Tòa án thì bị đơn mới biết tổng số tiền bị đơn phải trả nợ. Nhưng hoàn cảnh hiện tại của bị đơn khó khăn không thể trả một lần số tiền trên. Bị đơn thuộc gia đình hộ nghèo, đang lo cho cha mẹ già bị tiểu đường và đang thất nghiệp. Bị đơn rất thiện chí sẽ trả nợ nhưng xin công ty cho bị đơn trả gốc và góp nhỏ theo khả năng hiện tại là 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng/tháng.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn và bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và không bổ sung tài liệu chứng cứ nào mới.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

- Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Thẩm quyền giải quyết vụ án, thời hiệu khởi kiện, việc thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 97, Điều 171, Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đảm bảo nguyên tắc công khai, độc lập, khách quan, trực tiếp, bằng lời nói và đúng trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 12, 14, 15, 237, 239, 250 và 260 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của các đương sự và Hội đồng xét xử: Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa, các đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ thực tế, căn cứ vào khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng: Công ty TNHH Mua bán nợ W khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Kim T1 trả số tiền còn nợ phát sinh từ Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021. Đây là vụ án dân sự do tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Bị đơn - Bà Lê Thị Kim T1 có địa chỉ cư trú tại Quận 1 nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về pháp luật nội dung:

2.1. Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc:

Xét, bà Lê Thị Kim T1 và Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) có ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021. Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) đã giải ngân số tiền: 31.650.000 (Ba mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng cho bị đơn. Sau khi được cấp tín dụng, bị đơn mới thực hiện được việc thanh toán một phần khoản nợ cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) số tiền: 7.268.234 (Bảy triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm ba mươi bốn) đồng. Từ ngày 15/8/2021 cho đến nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) theo thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng đã ký dẫn đến phát sinh nợ quá hạn, gây thiệt hại cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam).

Ngày 20/6/2022, Công ty TNHH Mua bán nợ W đã ký Hợp đồng chuyển nhượng các khoản phải thu số: 27xx/202x/TTCN/MAFC-Wvới Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) về khoản nợ của bà Lê Thị Kim T1. Sau khi mua bán nợ, nguyên đơn có toàn quyền thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật

Xét việc bị đơn đã nhận giải ngân số tiền như thỏa thuận đã ký trong Hợp đồng tín dụng nhưng mới thực hiện một phần nghĩa vụ thanh toán lại cho nguyên đơn nên yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.

2.2. Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi do chậm thanh toán:

Xét thấy, Công ty tài chính TNHH Một thành viên M (Việt Nam) đã giải ngân cho bị đơn theo đúng thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021. Bị đơn đã sử dụng số tiền giải ngân nhưng mới thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại một phần khoản tiền nợ cho nguyên đơn, khoản tiền nợ còn lại bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.

Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất đối với khoản tiền bị đơn đã sử dụng theo thỏa thuận của Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021 là có cơ sở chấp nhận.

2.3. Xét phương thức và thời gian thanh toán:

Xét mặc dù bị đơn đã nhận giải ngân và nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ tháng 8/2021 đến nay và đối chiếu quy định pháp luật tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền bị đơn còn thiếu nguyên đơn (Tạm tính đến ngày 26/4/2024) là: 63.584.547 (Sáu mươi ba triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó:

  • Số tiền nợ gốc: 24.381.766 (Hai mươi bốn triệu ba trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng
  • Số tiền nợ lãi: 39.202.781 (Ba mươi chín triệu hai trăm lẻ hai nghìn bảy trăm tám mươi mốt) đồng

Kể từ ngày 27/4/2024, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2022;

- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ W:
  2. Buộc bị đơn bà Lê Thị Kim T1 phải trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền bị đơn còn thiếu nguyên đơn (Tạm tính đến ngày 26/4/2024) là: 63.584.547 (Sáu mươi ba triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó:

    • Số tiền nợ gốc: 24.381.766 (Hai mươi bốn triệu ba trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng
    • Số tiền nợ lãi: 39.202.781 (Ba mươi chín triệu hai trăm lẻ hai nghìn bảy trăm tám mươi mốt) đồng

    Kể từ ngày 27/4/2024, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 20075xx ngày 28/01/2021.

    Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Bà Lê Thị Kim T1 phải chịu án phí là: 3.179.227 (Ba triệu một trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm hai mươi bảy) đồng.

    Hoàn trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ W số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.541.512 (Một triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm mười hai) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0045461 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 1, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 1, TP.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Diệu Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 133/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger