|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/HSST Ngày: 25/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Văn Tốt
2/ Ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án
nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 208/2024/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 650/2024/HSST-QĐ ngày 31/5/2024 đối với các bị cáo:
1/ Huỳnh Thanh P; Giới tính: Nam; Sinh năm 1972; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú: A, QL1A, tổ 1, khu phố 3B, phường Thạnh L, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Trình độ học vấn: biết viết; Nghề nghiệp: Chạy xe ba gác; Cha: Huỳnh Văn B (chết); Mẹ: Võ Thị R. Hoàn cảnh gia đình: Vợ/con: Chưa có.
- Nhân thân:
- Ngày 05/02/1988, bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Hình thức xử lý: phổ thông công nông nghiệp (lao động công ích 15 ngày).
- Ngày 06/9/1991, bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Hình thức xử lý: phổ thông công nông nghiệp (lao động công ích 15 ngày).
- Ngày 02/5/1992 bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử 18 tháng tù giam theo bản án số 69/HSST ngày 19/8/1992.
- Ngày 17/02/1994 bị Công an Quận Thủ Đức bắt về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Hình thức xử lý: xử lý hành chính.
- Ngày 21/6/1995, bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Hình thức xử lý: phổ thông công nông nghiệp (lao động công ích 15 ngày).
- Ngày 15/10/1995 bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản công dân”. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 24 tháng tù giam theo bản án số 351/HSPT ngày 19/9/1996.
- Khi đang chấp hành hình phạt tại trại giam Mộc Hóa (tỉnh Long An) Huỳnh Thanh P lại phạm vào tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 12 tháng tù giam theo bản án số 40/HSST ngày 20/12/1997.
- Ngày 03/01/1999 bị Công an Quận 12 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản công dân”. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 6 năm tù giam theo bản án số 2632/HSST ngày 28/10/1999.
- Ngày 25/01/2005 bị Công an Quận 12 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 7 năm tù giam theo bản án số 110/HSST ngày 06/9/2005.
Tiền án: Ngày 24/11/2014 bị Công an Quận 12 bắt về hành vi “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”. Tòa án nhân dân Quận 12 xử 8 năm tù giam theo bản án số 97/HSST ngày 19/4/2016, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 24/02/2022 (BL 353). Chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí (BL 359). Tiền sự: Không
- Bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2023 (BL 14; 26) - (có mặt).
2/ Huỳnh Văn P, Giới tính: Nam; Sinh năm 1968; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú: A, tổ 4A, khu phố 2A, phường Tân Thới H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Cư ngụ: A, tổ 39, khu phố 5, phường An Phú Đ, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Xe ôm; Cha: Trương Quan M (chết); Mẹ: Huỳnh Thị G (chết); hoàn cảnh gia đình: Vợ: Võ Thị M; Con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1987 và nhỏ nhất sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là thành phố Thủ Đức) Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 83/2008/HSST ngày 06/8/2008. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí.
- Bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2023 (BL 27) - (có mặt).
Người bị hại: Công ty TNHH TM-DV L
Đại diện theo Giấy ủy quyền: Ông Lê Văn A, chức vụ: Phó giám đốc
Trú tại: A5, chung cư Tecco, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.
-Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Lê Văn H, sinh năm 1988
HKTT: Thôn Kim Đ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
Trú tại: Nhà không số (kế 460/15) đường Thạnh L, tổ 3, khu phố 3C, phường Thạnh Lộc, Quận 12, TP. HCM.
-Vắng mặt
2/ Công ty Cổ phần tập đoàn T
Đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Vũ Thái N, sn 1985, chức vụ: Chỉ huy phó thi công gói thầu.
HKTT: Thôn Kim Đ, xã An T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
Trú tại: A, đường 11, tổ 9, khu phố 5, phường Phước Bình, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
-Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Huỳnh Thanh P điều khiển xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372 chở Huỳnh Văn P đi giao hàng cho khách tại khu vực đường Lê Thị Riêng, phường Thới An, Quận 12.
Sau khi giao hàng xong, Ph điều khiển xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372 chở P về, khi đi đến trước địa chỉ: không số, tổ 4, khu phố 7, phường Thới An, Quận 12 thì Ph dừng xe lại và xuống xe đi vệ sinh bên vệ đường còn P ngồi lại trên xe. Lúc này, Ph nhìn thấy tường rào bao quanh công trình tại địa chỉ: không số, Tổ 4, Khu phố 7, phường Thới An, Quận 12 có 01 lỗ trống nên Ph chui vào bên trong công trình. Sau đó, Ph nói với P bên trong công trình có nhiều sắt, không có người trông coi và rủ P vào bên trong trộm cắp tài sản để đem đi bán lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý. Ph lấy 01 cây xà beng dài khoảng 40cm có sẵn trên xe mô tô ba gác và đi đến trước cửa cổng công trình tại địa chỉ: không số, tổ 4, khu phố 7, phường Thới An, Quận 12. Ph dùng 02 tay cầm cây xà beng và cạy phá ổ khóa cửa cổng công trình còn P ngồi trên xe mô tô ba gác cảnh giới. Khi ổ khóa bị cạy bung mở ra, Ph dùng tay trái cầm xà beng, tay phải cầm lấy ổ khóa và vứt bỏ ổ khóa xuống đất rồi đem xà beng đến xe mô tô ba gác để cất.
Lúc này, P bước xuống xe và đi đến cửa cổng công trình, P mở hai cánh cửa cổng công trình còn Ph điều khiển xe mô tô ba gác chạy vào trong công trình. Sau khi Ph điều khiển xe vào trong công trình thì P đóng cửa cổng công trình lại.
Vào bên trong công trình Ph xuống xe cùng P khiêng số thanh sắt đang nằm bên trong công trình lên xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372 gồm:
- - 03 (ba) thanh sắt chữ nhật (kích thước 4 x 8 cm, dài 6 mét);
- - 67 (sáu mươi bảy) thanh sắt hình chữ nhật (kích thước 3 x 6 cm, dài 6 mét);
- - 06 (sáu) cây sắt tròn (đường kính 09 cm, dài 4,3 mét);
- - 04 (bốn) cây sắt tròn (đường kính 09 cm, dài 29 cm);
- - 02 (hai) cây sắt tròn (đường kính 09 cm, dài 29 cm, có đế hình vuông kích thước 29 x 29 cm);
- - 01 (một) khung sắt hình chữ nhật được hàn các thanh sắt với nhau có kích thước 01 cạnh dài 5,37 mét, 01 cạnh dài 6,16 mét, chiều rộng 67cm.
Sau khi khiêng số sắt trên lên xe ba gác, Ph và P tiếp tục tìm kiếm tài sản bên trong công trình để trộm cắp thì phát hiện 01 nhà kho bên trong có 14 thùng giấy, khi mở ra thấy bên trong mỗi thùng giấy chứa 01 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ôtô nhưng cả 02 không biết đó là gì nên đóng lại và khiêng 14 thùng giấy lên xe mô tô ba gác với mục đích mang về nhà Ph cất giấu rồi tìm người để hỏi và bán.
Sau khi đã trộm cắp tài sản xong, P mở cửa công trình để Ph điều khiển xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372 chở theo số tài sản vừa trộm cắp được nhanh chóng tẩu thoát.
Khi tẩu thoát đến khu vực Ngã tư Ga, P nói Ph để P đi vào bến xe Ngã tư Ga lấy xe môtô nhãn hiệu SYM Attila, biển số: 54U1-1929 của P gửi tại đây rồi P điều khiển xe môtô biển số: 54U1-1929 chạy theo xe môtô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372 do Ph điều khiển tìm nơi tiêu thụ số tài sản vừa trộm cắp.
Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/10/2023, P và Ph đến chỗ mua bán phế liệu, địa chỉ: 460/15, Khu phố 3C, phường Thạnh Lộc, Quận 12. Tại đây, P gõ cửa tiệm thì Lê Văn Học, sinh năm 1988 ra mở cửa. P hỏi Học có mua số sắt trên xe môtô ba gác không? Học hỏi P “Sắt này ở đâu có?”, P trả lời “sắt này bị lỗi, mua ở công trình”, Học tiếp tục hỏi P “sao bán giờ này?”, P trả lời “chở đồ này cồng kềnh, sợ bị giao thông bắt nên đi giờ này” thì Học đồng ý mua. Tại đây, Học gọi thêm Nguyễn Quyết Tiến, sinh năm 1994 khiêng số sắt trên xe môtô ba gác cùng với P và Ph xuống đất.
Sau khi đã khiêng toàn bộ số sắt xuống, Ph nói với P là Ph cảm thấy mệt nên sẽ chở 14 thùng giấy về nhà của Ph cất giấu trước còn P ở lại cân sắt. P và Học tiến hành cân số sắt trên thì được 600kg sắt và Học báo giá mua lại là 6.000.000 đồng thì P đồng ý bán. Học đưa P số tiền 6.000.000 đồng tiền mặt, khi nhận đủ tiền P điều khiển xe môtô nhãn hiệu SYM Attila, biển số: 54U1-1929 về nhà của Ph.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, P về đến nhà Ph tại địa chỉ số 64, Khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12, nói Ph bán số sắt vừa trộm cắp được 6.000.000 đồng. P đưa cho Ph số tiền 3.000.000 đồng và P giữ lại 3.000.000 đồng. Cả 02 đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau đó, P nói Ph lấy 01 thùng giấy vừa trộm được có chứa 01 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ôtô đi cùng P đên nhà Huỳnh Thanh Tùng, sinh năm: 1971 để nhờ Tùng hỏi giúp bên trong thùng giấy là máy gì và tìm giúp người mua. Khi gặp Tùng, cả 02 không nói nguồn gốc của tài sản bên trong thùng giấy là do trộm cắp mà có, Tùng cũng không hỏi nguồn gốc tài sản. Tùng giữ lại 01 thùng giấy có chứa 01 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ôtô để tìm người hỏi và tìm người mua giúp cho P và Ph. Tùng đem thùng giấy có chứa 01 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ôtô tìm chỗ bán nhưng không ai biết vật này là gì, không ai thu mua nên Tùng mang về cất ở nhà.
Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 18/10/2023, anh Lê Văn An, nhận được điện thoại của nhân viên là Hồ Văn Đắc thông báo tại công trình thi công bãi xe ở địa chỉ: không số, Tổ 4, Khu phố 7, phường Thới An, Quận 12 bị phá khóa cổng và bị mất trộm vật tư xây dựng cùng với pin dùng cho trụ sạc điện xe ôtô. Anh Lê Văn An đến công trình để kiểm tra thì phát hiện bị mất trộm số tài sản như trên. Sau sự việc, đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, anh An đến Công an phường Thới An, Quận 12 trình báo.
Đến ngày 21/10/2023, P, Ph và Tùng bị Cơ quan Công an mời về trụ sở làm việc.
Bản cáo trạng 175/CT-VKS.Q12, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố: Huỳnh Thanh P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Truy tố Huỳnh Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015
Tại phiên tòa:
Bị cáo Huỳnh Thanh P, Huỳnh Văn P khai nhận hành vi trộm cắp tài sản tại công trình xây dựng địa chỉ: không số, tổ 4, khu phố 7, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của của người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Huỳnh Thanh P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Truy tố Huỳnh Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Huỳnh Thanh P từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Bị cáo Huỳnh Văn P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Huỳnh Thanh P, Huỳnh Văn P không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do lười lao động, cần tiền tiêu xài, Huỳnh Thanh P và Huỳnh Văn P lén lút trộm cắp tài sản là 83 thanh sắt các loại và 14 tấm pin dùng trụ sạc điện xe ô tô tại công trình xây dựng địa chỉ: không số, tổ 4, khu phố 7, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh rồi đưa lên xe mô tô ba gác tẩu thoát.
Hành vi nêu trên đã phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự
Về trách nhiệm hình sự:
Tại bản Bản kết luận định giá tài sản số: 362/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 12 kết luận (bút lục 274-276):
- - 03 thanh sắt chữ nhật dạng hộp, kích thước 4 x 8 cm, dài 6 mét, trọng lượng: 27kg (9kg/thanh) có giá: 519.750 đồng.
- - 67 thanh sắt dạng hộp, kích thước 3 x 6 cm, dài 6 mét; trọng lượng: 536kg (8kg/thanh) có giá: 10.318.000 đồng.
- - 06 thanh sắt đường kính 09 cm, dài 4,3 mét; trọng lượng: 90kg (15kg/thanh) có giá: 1.746.000 đồng.
- - 04 thanh sắt đường kính 09 cm, dài 29 cm; trọng lượng: 08kg (02kg/thanh) có giá: 176.000 đồng.
- - 02 thanh sắt đường kính 09 cm, dài 29 cm, có đế hình vuông kích thước 29x29 cm; trọng lượng: 12kg (06kg/thanh) có giá: 252.000 đồng.
- - 01 khung sắt hình chữ nhật được hàn các thanh sắt với nhau có kích thước 01 cạnh dài 5,37 mét, 01 cạnh dài 6,16 mét, chiều rộng 67cm; trọng lượng: 40kg/khung sắt, có giá: 776.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 13.787.750 đồng.
Huỳnh Thanh P năm 2016 bị Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 8 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt vào ngày 24/02/2022, chưa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí. Trong thời gian chưa được xóa án tích lại phạm tội mới. Lần này phạm tội thuộc tình tiết tái phạm nguy hiểm.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự để truy tố Huỳnh Thanh P và áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự để truy tố đối với Huỳnh Văn P là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi nêu trên của Huỳnh Thanh P, Huỳnh Văn P là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Ph có nhân thân rất xấu: năm 1988, bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Năm 1991, bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Năm 1992 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử 18 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Năm 1994 bị Công an Quận Thủ Đức bắt về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Năm 1995, bị Công an huyện Hóc Môn bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Năm 1996, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Năm 1997 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam. Năm 1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 6 năm tù giam về tôi Trộm cắp tài sản công dân. Năm 2005, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 7 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo Huỳnh Văn P năm 2008 bị Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là thành phố Thủ Đức) Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo Ph đã được Nhà nước đưa đi giáo dục nhiều lần, nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, tài sản đã trả lại cho người bị hại và người liên quan..... nên xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi trộm cắp 14 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô:
Ngày 24/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 324/YC-CQCSĐT (BL 254) đối với 14 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô có tên Power Module, mã số: ADQPWM0168;
Ngày 13/11/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự Quận 12 có Công văn số 1517/CV-TTHS trả lời đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 12 cung cấp bổ sung tài liệu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4, Thông tư số 30/2020/TT-BTC ngày 17/4/2020 của Bộ tài chính.
Ngày 18/11/2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 có công văn số 6485/Đ.CSHS gửi Công ty TNHH Kinh doanh Thương mại và Dịch vụ Vinfast Việt Nam đề nghị cung cấp hóa đơn, bảng giá đối với 14 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô có tên Power Module, mã số: ADQPWM0168 (tài liệu kèm theo là hình ảnh 14 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô).
Ngày 21/11/2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 có công văn số 6517/ĐCSHS phúc đáp lại Công văn số 1517/CV-TTHS của Hội đồng định giá: “Qua làm việc với Phạm Vũ Thái Nguyên không cung cấp được hợp đồng mua bán, tờ khai hải quan đối với tài sản nhập khẩu đối với tấm pin dùng cho sạc điện xe ô tô cho Công ty Vinfast Việt Nam” (BL 260).
Ngày 24/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 12 ban hành Công văn số: 339/KL-HĐĐGTS với nội dung: 14 (mười bốn) tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô có tên Power Module, mã số: ADQPWM0168: Do không có hợp đồng mua bán; hóa đơn mua bán; tờ khai hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu; tài liệu thể hiện tính pháp lý, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của tài sản, nguồn gốc xuất xứ, năm sản xuất, năm đưa vào sử dụng. Vì vậy, Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 12 từ chối định giá (bút lục 264-267).
Ngày 20/02/2024, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 có Công văn số 1258/YC-CQCSĐT gửi Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp Thành phố yêu cầu định giá lại tài sản là 14 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô có tên Power Module, mã số: ADQPWM0168.
Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp thành phố có Công văn số 2238/HĐĐGTS-QLG ngày 12/4/2024 trả lời: Đối với tài sản cần định giá lại theo Yêu cầu định giá lại số 1258/YC-CQCSĐT ngày 20/02/2024 của Cơ quan điều tra Công an Quận 12 không thuộc trường hợp định giá lại (bút lục 423-426).
Do thời điểm hiện tại không định giá được tài sản là 14 tấm pin dùng cho trụ sạc điện xe ô tô có tên Power Module, mã số: ADQPWM0168 nên chưa đủ cơ sở để xử hình sự các bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản đối với 14 tấm pin. Trường hợp sau này nếu Các cơ quan tố tụng định giá được tài sản đối với 14 tấm pin có ký hiệu nêu trên thì sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Người bị hại Công ty TNHH TM-DV LINK VN đã nhận lại tài sản là các thanh sắt (bút lục 362, 366); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần tập đoàn TDI đã nhận lại tài sản là 14 tấm pin (bút lục 361, 365), không có yêu cầu bồi thường thêm (bút lục 111-113, 116-117, 277) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Lê Văn Học (chủ cơ sở mua bán phế liệu) đã mua các thanh sắt. Anh Học không biết các thanh sắt do các bị cáo mang đến bán là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự. Anh Học không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng.
Đối với 01 (một) xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372 do Huỳnh Thanh P điều khiển chở các tài sản trộm cắp để tẩu thoát và mang đi bán. Qua xác minh biển số: 60Y2-4372 được biết do bà Trương Thị Huệ đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay, bà Huệ không còn thực tế cư trú tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng báo nhưng chưa có kết quả. Qua giám định không có cơ sở xác định biển số: 60Y2-4372 là thật hay giả. Qua xác minh, số máy: LX163ML-10VG038829 không có trên dữ liệu của Cục Cảnh sát giao thông, qua giám định số máy: LX163ML-10VG038829 nguyên thủy, không bị đục, số khung: HKZ-012790 bị đục lại, không xác định được số nguyên thủy (bút lục 369-376).
Đối với xe môtô nhãn hiệu SYM Attila màu đen biển số: 54U1-1929 do Huỳnh Văn P điều khiển đi theo xe bị cáo Ph để đến nơi bán tài sản do phạm tội mà có. Qua xác minh được biết do anh Lê Hoàng Khương Duy đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh Duy cho biết đã bán xe từ lâu, không nhớ được địa điểm, người mua xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng báo tìm người mua xe của anh Duy nhưng chưa có kết quả (bút lục 381-382).
Do vậy, cần giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe môtô nhãn hiệu SYM Attila và xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372. Nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Đối với ổ khóa màu đỏ đen có ghi chữ ZORO đã hư hỏng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với USB ghi nhận hình ảnh vụ “Trộm cắp tài sản” ngày 18/10/2023, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền các bị cáo bán tài sản do phạm tội mà có. Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không buộc nộp lại sung quỹ Nhà Nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh P và Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1/ Xử phạt: Huỳnh Thanh P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2023
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
2/ Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2023
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ổ khóa màu đỏ đen có ghi chữ ZORO đã hư hỏng;
Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12: Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với:
- -01 (một) xe mô tô ba gác gắn biển số: 60Y2-4372, số máy: LX163ML-10VG038829; số khung: HKZ-012790, tình trạng đã qua sử dụng.
- -01 (một) xe môtô nhãn hiệu SYM Attila màu đen biển số: 54U1-1929, số khung: RLGH125GD7D061543, số máy: VMM9BE-D061543, tình trạng đã qua sử dụng.
Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 144/QĐ-VKS ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đối với USB ghi nhận hình ảnh vụ “Trộm cắp tài sản” ngày 18/10/2023, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Các bị cáo Huỳnh Thanh P và Huỳnh Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |
Bản án số 133/2024/HSST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 133/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
