|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/HSST
Ngày 23/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Thắng
- Ông Nguyễn Hữu Ba
Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HS ngày 08/7/2024, đối với bị cáo:
Hoàng Đức L, sinh năm 2005
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Y, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Hoàng Đức S, sinh năm 1975 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/3/2024 đến ngày 08/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Anh Phương Văn L1, sinh ngày 06/11/2006; Hộ khẩu thường trú: Bản Búng, Y, B, Cao Bằng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phương Mùi D, sinh năm 2000; Hộ khẩu thường trú: Bản Búng, Y, B, Cao Bằng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phùng Tiến K, sinh ngày 05/10/2008; Hộ khẩu thường trú: Thôn Y, huyện Y, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên toà.
Anh Phùng Tiến T, sinh năm 1987; Hộ khẩu thường trú: Thôn Y, huyện Y, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 28/3/2024, Phùng Tiến K, sinh ngày 05/10/2008, hộ khẩu thường trú (HKTT) thôn Y, xã Y, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 99E1-311.64 (là xe của ông Phùng Tiến T, sinh năm 1987, HKTT: Thôn Y, xã Y, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh bố đẻ của K) cùng Hoàng Đức L, sinh năm 2005, HKTT: thôn L, xã Y, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đi xin việc ở công ty Y ở Khu công nghiệp Q nhưng không được. Sau đó Đức L cùng K đi về thì gặp anh Phương Văn L1, sinh ngày 06/11/2006, HKTT: Bản Búng, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng cũng đang đi xin việc, cả 3 ngồi nói chuyện rồi xin tài khoản facebook để kết bạn. Đức L dùng tài khoản Facebook của Đức L là “Duc Lam” và K dùng tài khoản Facebook của K là “Hoang Tien Khai” kết bạn Facebook với anh Văn L1 là “Hoàng Cu Đ” rồi tất cả cùng ra về. Khoảng 10 giờ cùng ngày lúc này Đức L và K đang ngồi chơi điện tử trong quán internet ở khu vực thôn M, xã P, thị xã Q thì Đức L cùng K nhắn tin qua facebook cho anh Văn L1 rủ anh Văn L1 đến khu phố Đ, phường N, thành phố B uống nước, anh Văn L1 đồng ý. Uống nước được khoảng 15 phút thì cả 3 cùng rủ nhau sang huyện T, tỉnh Bắc Ninh để chơi. Lúc này Đức L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 99E1-311.64 chở K còn anh Văn L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 11AM-001.27 (là xe của chị Phương Mùi D, sinh năm 2000, HKTT: Bản C, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng chị gái của anh Văn L1). Lúc này khoảng 11 giờ cùng ngày do không có việc làm, không có tiền chi tiêu cá nhân nên Đức L nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh Văn L1 để bán lấy tiền. Đức L nói với K là “Xem dong thằng này sang T, tìm cách nào lấy xe của thằng này sau bán lấy tiền để chuộc máy điện thoại ra”, K đồng ý. Khi cả 3 đi đến vòng xuyến thuộc thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì Đức L dừng xe lại, K nói với Đức L “Mày đứng đây đợi tao tý tao dong thằng này vào trong kia để tìm cách lấy xe của nó”. Đức L đồng ý. Sau đó K đi sang bảo anh Văn L1 “Xe của em hết xăng rồi, để thằng L1 ở đây, anh đi vào trong Lạc Vệ đón người yêu em cùng với em”. Đức L nghe thấy K nói dối anh Văn L1 về việc xe hết xăng nhưng không có lời nói hành động gì. Anh Văn L1 tin tưởng đồng ý đi cùng K và để K điều khiển xe chở anh Văn L1 đi vào trong thôn X. Khi đến khu vực ngõ gần nhà văn hóa thôn X thì K nói dối anh Văn L1 “Anh đứng đây đợi em, nhà người yêu em ở cuối ngõ rồi, để em đi vào gọi nó và lấy chai đổ xăng”, anh Văn L1 tin tưởng xuống xe và giao xe cho K. K điều khiển xe đi vào trong ngõ và rẽ ra đường khác rồi quay lại chỗ Đức L đang đợi. Tại đây, K bảo với Đức L là “Lấy được xe rồi” thì Đức L bảo “Đi lên kia tháo biển”, sau đó K điều khiển xe của K còn Đức L điều khiển xe của anh Văn L1 đi đến khu vực ấp Đ, thôn V, huyện T thì dừng lại. Tại đây, Đức L dùng cờ lê có sẵn trong xe của anh Văn L1 tháo biển số xe của anh Văn L1 rồi vứt đi, Sau đó K điều khiển xe của K về nhà còn Đức L điều khiển xe của anh Văn L1. Xe của anh Văn L1 thì Đức L và K dùng làm phương tiện đi lại. Về đến nhà, Đức L và K chặn hết liên lạc facebook của anh Văn L1.
Ngày 29/3/2024, anh Văn L1 đến Cơ quan điều tra trình báo về việc khoảng 11 giờ 30 ngày 28/3/2024 tại thôn X, xã L, huyện T bị 02 thanh niên mới quen tên là K và L1 có hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS 11AM-001.27 trị giá khoảng 18.000.000₫.
Ngày 30/3/2024, Đức L nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi và giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng, không có biển kiểm soát. Cùng ngày 30/3/2024, K tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 99E1-311.64
Tại bản Kết luận định giá trong tố tụng hình sự số 46/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện T kết luận: 01 xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng tại thời điểm phạm tội có giá là 17.000.000 đồng.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Ngày 10/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định thông báo truy tìm vật chứng đối với 01 biển kiểm soát 11AM-001.27 và 01 cờ lê bằng kim loại nhưng đến nay chưa thu hồi được.
- Ngày 19/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D 01 xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng, chị D đã nhận lại xe và yêu cầu Đức L và K phải bồi thường cho chị số tiền 500.000đ là chi phí đăng kí lại biển kiểm soát xe.
- Ngày 17/5/2024, Đức L đã tự nguyện bồi thường cho chị D 500.000 đồng liên quan chi phí phát sinh làm lại biển kiểm soát xe. Chị D đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu Đức L và K bồi thường gì khác.
- Quá trình điều tra xác định, ông T không biết việc K sử dụng xe mô tô Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 99E1-311.64 vào hành vi phạm tội nên ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông T là phù hợp.
Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSTD ngày 17/6/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Hoàng Đức L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo nhận tội và khai nhận: Do không có việc làm và cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 11 giờ tại thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh bị cáo Hoàng Đức L đã rủ Phùng Tiến K chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 11AM-001.27 của anh Phương Văn L1. Sau đó bị cáo Hoàng Đức L cùng Phùng Tiến K nói dối là xe mô tô của K hết xăng và K giả vờ hỏi mượn xe của anh Văn L1 để đi đón bạn gái. Anh Văn L1 tin tưởng và giao xe cho K nhưng sau đó K điều khiển xe đi theo hướng khác và cùng bị cáo Đức L tháo biển kiếm soát xe nhằm chiếm đoạt xe để sử dụng. Chiếc xe mô tô mà bị cáo Đức L và K chiếm đoạt trị giá 17.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt Hoàng Đức L từ ... tháng đến ... tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ....
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/5/2024, Đức L đã tự nguyện bồi thường cho chị D 500.000 đồng liên quan chi phí phát sinh làm lại biển kiểm soát xe. Chị D đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu Đức L và K bồi thường gì khác.
Về xử lý vật chứng:
- Ngày 10/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định thông báo truy tìm vật chứng đối với 01 biển kiểm soát 11AM-001.27 và 01 cờ lê bằng kim loại nhưng đến nay chưa thu hồi được.
- Ngày 19/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D 01 xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng, chị D đã nhận lại xe và yêu cầu Đức L và K phải bồi thường cho chị số tiền 500.000đ là chi phí đăng kí lại biển kiểm soát xe.
Quá trình điều tra xác định, ông T không biết việc K sử dụng xe mô tô Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 99E1-311.64 vào hành vi phạm tội nên ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông T là phù hợp.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại anh Phương Văn L1 vắng mặt tại phiên toà tuy nhiên theo hồ sơ anh Phương Văn L1 khai việc anh Phương Văn L1 tự ý lấy xe đi, chị Phương M Diêm không được biết và chị Phương Mùi D đã nhận lại được tài sản là 01 xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng và 500.000 chi phí đăng ký biển kiểm soát xe, anh Phương Văn L1 không có ý kiến gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hoàng Đức L.
Người đại diện theo pháp luật cho bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan chị Phương Mùi D đã nhận lại được tài sản là 01 xe mô tô Honda Wave, màu sơn trắng, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng và 500.000 chi phí đăng ký biển kiểm soát xe, chị Phương M Diêm đề nghị Toà án xét xử theo quy định của pháp luật.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Phùng Tiến T có mặt tại phiên toà và khai đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô Honda Wave, màu xanh dương, BKS: 99E1-311.64. Phùng Tiến K là con trai anh tự ý lấy đi, anh không được biết. Anh Phùng Tiến T đề nghị Toà án xét xử theo quy định pháp luật.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Phùng Tiến K có mặt tại phiên toà và khai đã tự ý lấy chiếc xe của anh T đi và không được sự cho phép của anh T, ngoài ra không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan tại phiên toà.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:
Do không có việc làm và cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 11 giờ tại thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh Hoàng Đức L rủ Phùng Tiến K chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 11AM-001.27 của anh Phương Văn L1. Sau đó Hoàng Đức L cùng Phùng Tiến K nói dối là xe mô tô của K hết xăng và K giả vờ hỏi mượn xe của anh Văn L1 để đi đón bạn gái. Anh Văn L1 tin tưởng và giao xe cho K nhưng sau đó K điều khiển xe đi theo hướng khác và cùng Đức L tháo biển kiếm soát xe nhằm chiếm đoạt xe để sử dụng. Chiếc xe mô tô mà Đức L và K chiếm đoạt trị giá 17.000.000 đồng. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho chị D và anh Phương Văn L1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; có ông nội được tặng Bằng khen trong kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy cũng xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- [5] Về vật chứng: Không
- [6] Liên quan trong vụ án: Đối với Phùng Tiến K, sinh ngày 05/10/2008, tại thời điểm phạm tội K chưa đủ 16 tuổi chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngày 29/5/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 80 đối với K bằng hình thức phạt Cảnh cáo là đúng quy định pháp luật.
Đối với Phương Văn L1 có hành vi điều khiển xe mô tô chưa đủ 18 tuổi vi phạm khoản 1 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ - CP ngày 30/12/2019(sửa đổi bổ sung bởi khoản 11, Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ). Cơ quan điều tra có công văn đề nghị Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T xem xét xử lý hành chính với L1 về hành vi trên là đúng quy định pháp luật.
Đối với ông T và chị D không biết việc K và Văn L1 lấy xe mô tô để sử dụng và khi K và Văn L1 lấy xe cũng không nói cho ông T và chị D biết nên Cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở đối với ông T, chị D là đúng quy định pháp luật.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Hoàng Đức L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Hoàng Đức L 18 tháng tù
- Về vật chứng: Không
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Đức L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Anh Văn |
Bản án số 133/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 133/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LĐCĐTS
