Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2024.

V/v tranh chấp về ly hôn của nam,

nữ sống chung với nhau như vợ

chồng mà không đăng ký kết hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Ngô Văn Khon.
  2. Ông Lê Văn Dài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chí P – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 21 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc Tranh chấp về ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 99/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Ngọc T, sinh năm: 1994 (vắng mặt có đơn xin vắng);

Nơi cư trú: Tổ A, ấp E, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm: 1990 (vắng mặt không có lý do chính đáng).

Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Chổ ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

- Nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc T trình bày: Về hôn nhân chị T và anh H tự nguyện tìm hiểu thời gian được 01 năm vào năm 2013, đến năm 2014 tự nguyện về chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống chị T và anh H mâu thuẩn do cự cải đánh nhau, anh H tham gia tệ nạn xã hội như cờ bạc, tài xỉu, chị T mâu thuẩn với cha mẹ chồng và đã ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Anh H có tới lui và muốn hàn gắn lại nhưng chị T không đồng ý. Về con chung có 02 người con chung tên Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và cháu Dương Văn T1, sinh ngày 12/9/2019, hiện nay do anh H nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay chị Ngọc T yêu cầu ly hôn với anh H, con chung thống nhất giao cháu Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và cháu Dương Văn T1, sinh ngày 12/9/2019 cho anh Phạm Văn H nuôi dưỡng đến trưởng thành, chị T không tự nguyện cấp dưỡng cho các con, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Phạm Văn H: Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị T, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh H về yêu cầu khởi kiện của chị T.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đến tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, về hôn nhân không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị Ngọc T và anh Phạm Văn H, giao con chung cháu Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và cháu Dương Văn T1, sinh ngày 12/9/2019 cho anh Phạm Văn H nuôi dưỡng đến trưởng thành, chị Dương Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng cho các con do anh Phạm Văn H không có yêu cầu chị T cấp dưỡng cho các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Văn H, hiện nay đăng ký cư trú ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị T và anh H không có đăng ký kết hôn, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh H, nên phát sinh tranh chấp về ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3.] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị T vắng mặt có đơn xin vắng và anh H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh H cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh H là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.] Về nội dung:

[2.1.] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh H là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, chung sống với nhau từ năm 2014 nhưng không có đăng ký kết hôn theo luật định, nên đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Trong thời gian chung sống chị T và anh H phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, do bất đồng ý kiến, quan điểm sống không phù hợp, anh H tham gia đánh bạc, gây nợ nần, dẫn đến cự cải, đánh nhau và đã ly thân từ tháng 01/2023. Chị T và anh H chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là phù hợp với Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung:

[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Con chung tên Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Văn T1, sinh ngày 12/9/2019, do anh H nuôi

dưỡng, chị T thống nhất giao các con cho anh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành và anh H không có ý kiến về việc nuôi con chung, nguyện vọng của cháu Trường G được anh H nuôi dưỡng, cháu Dương Văn T1 chưa đủ 07 tuổi. Để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định, phát triển tốt, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với các con chưa thành niên sau khi ly hôn.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của chị Dương Thị Ngọc T đối với anh Phạm Văn H, tiếp tục giao cháu Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Văn T2 rường, sinh ngày 12/9/2019 cho anh Phạm Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Dương Thị Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu G và cháu T1 không ai được cản trở.

[2.2.2.] Về cấp dưỡng cho con: Chị T là người không trực tiếp nuôi con, không tự nguyện cấp dưỡng cho các con, anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng các con nhưng anh H không có ý kiến yêu cầu chị T cấp dưỡng cho các con. Hội đồng xét xử xét thấy anh H là người trực tiếp nuôi con, có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập của chị T, nhưng anh H không có ý kiến, yêu cầu chị T cấp dưỡng cho các con. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi người con với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương tối thiểu vùng mỗi tháng tại nơi chị T đang cư trú là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5.] Về án phí:

Nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng cho con là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, chị T còn phải nộp thêm số tiền 300.000đ.

Bị đơn anh Phạm Văn H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận một phần, đối với việc không buộc chị T cấp dưỡng cho các con không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83, Điều 110, 116 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 7 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị Ngọc T và anh Phạm Văn H.

  2. Về con chung: Chấp nhận một phần yêu cầu nuôi con chung của chị Dương Thị Ngọc T đối với anh Phạm Văn H.

    Giao cháu Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Văn T1, sinh ngày 12/9/2019 cho anh Phạm Văn H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

    Chị Dương Thị Ngọc T có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Dương Trường G, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Văn T1, sinh ngày 12/9/2019 với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương tối thiểu vùng tại nơi chị Dương Thị Ngọc T đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con đến khi cháu Trường G và cháu Văn T1 trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21/8/2024.

    Sau khi ly hôn, chị Dương Thị Ngọc T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Chị Dương Thị Ngọc T không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Phạm Văn H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của chị Dương Thị Ngọc T.

  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ và án phí cấp dưỡng cho con là 300.000đ, tổng cộng là 600.000đ, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Dương Thị Ngọc T đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006673 ngày 21/6/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị Dương Thị Ngọc T phải nộp thêm số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

    Bị đơn anh Phạm Văn H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21/8/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS ND huyện;
  • - Chi cục THA DS huyện;
  • - Tòa án ND tỉnh;
  • - Cổng TTĐT Tòa án;
  • - UBND xã Bình Thành;
  • - Lưu: VT/, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Lý Thị Bích Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, con chung

  • Số bản án: 133/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger