Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 133/2025/HS-ST

Ngày: 19/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Quốc Hưng
    2. Bà Đặng Thu Vân
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 27/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2025/QĐXXST-HS ngày 31/5/2025 và Thông báo dời ngày số 56/2025/TB-HS ngày 05/06/2025 đối với bị cáo:

Tô Ngọc R; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/01/1995 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 9/12. Con ông Tô Ngọc V và bà Lê Thị Cẩm . Bị cáo có vợ, chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2024. (Bị cáo có mặt)

Bị hại: Cháu Võ Thị Ngọc T (sinh năm 2009); Đại diện bị hại: Bà Lê Thị Hoài D; Địa chỉ: Nhà không số kế số A Rach C, Phường G, Quân H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lương Trọng Q, sinh năm 1982 ; Địa chỉ: B đường B, khu dân cư B, Phường G, Quân H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Lương Thị Ngọc T1, sinh năm 1976, số 1 Lô A, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Phan Nguyễn Huyền T2, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

Ông Lê Tiểu P; địa chỉ: ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 5/2024, Tô Ngọc R và cháu Võ Thị Ngọc T (sinh ngày 25/5/2009) nảy sinh mối quan hệ yêu đương nam nữ. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/5/2024, R chở cháu T đến nhà nghỉ “Bảo Hân”, địa chỉ số B đường B, khu dân cư B, Phường G, Quận H để quan hệ tình dục. Ri và cháu T thuê phòng theo giờ (Ri không nhớ rõ số phòng). Tại phòng nghỉ, R hôn môi, hôn má và dùng tay sờ ngực của cháu T, sau đó R và cháu T tự cởi quần áo đang mặc trên người ra, R đưa dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo của cháu T thực hiện quan hệ tình dục khoảng 10 phút, rồi xuất tinh ra ngoài nệm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, R và cháu T trả phòng, R thanh toán tiền phòng 70.000 đồng.

Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, R tiếp tục chở cháu T đến thuê phòng nghỉ số 209 tại nhà nghỉ “Bảo Hân”. Tại đây, R và cháu T tự cởi quần áo trên người ra, sau đó R ôm, hôn má, hôn môi của cháu T và đưa dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo của cháu T thực hiện quan hệ tình dục 10 đến 15 phút, rồi xuất tinh ra ngoài nệm. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Công an P1, Quận H kiểm tra hành chính nhà nghỉ “Bảo Hân”, phát hiện tại phòng số 209 của nhà nghỉ có Tô Ngọc R và cháu Võ Thị Ngọc T đang ở cùng nhau. Khi kiểm tra, R và cháu T không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên Công an P1, Quân H đưa R và cháu T về trụ sở để làm rõ.

Sau đó, Công an P1, Quận H phối hợp với Trạm y tế P2, Quận H tiến hành kiểm tra ma túy đối với R và cháu T, kết quả: Ri dương tính ma túy loại Methamphetamine và cháu T dương tính với ma túy loại Morphin. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 để làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, Tô Ngọc R khai nhận hành vi quan hệ tình dục đối với cháu T như trên và R không biết cháu T dưới 16 tuổi. Cả 02 lần quan hệ tình dục, R và cháu T không sử dụng bao cao su. Ngoài ra, R khai trước ngày 14/6/2024 khoảng 02 đến 03 ngày, R được bạn quen ngoài xã hội (không rõ thông tin, lai lịch, địa chỉ) cho một liều ma túy đá để sử dụng, R sử dụng ma túy một mình, cháu T không biết việc R sử dụng ma túy. Cháu T khai không sử dụng ma túy, không biết việc R sử dụng ma túy, không sử dụng ma túy cùng R, trước ngày 14/6/2024, cháu T bị cảm sốt liên tục 04 đến 05 ngày nên có sử dụng thuốc tây, cháu T nghĩ đây là nguyên nhân xét nghiệm cháu T dương tính với ma túy.

Ngày 27/6/2024, Trung tâm pháp y Thành phố H ra kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em, kết luận:

  • - Màn trinh: Dãn rộng. Không rách.
  • - Có tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.
  • - Hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn đủ làm cơ sở so sánh với ADN của đối tượng.

Ngày 08/8/2024, Trung tâm Pháp y Thành phố H ra kết luận giám định ADN, xác định ADN của Tô Ngọc R hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo, phết dịch âm hộ và phết vùng hậu môn của Võ Thị Ngọc T.

Ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Tô Ngọc R, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra.

Tại cáo trạng số 53/CT-VKSQ8 ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Tô Ngọc Ri, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Ngoài ra cáo trạng còn xác định:

Đối với anh Lương Trong Q1, là nhân viên quản lý nhà nghỉ “Bảo Hân” cho R và cháu T thuê phòng, do anh Q1 không biết tuổi của cháu T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 không xem xét xử lý hình sự là có cơ sở.

Đối với chị Lương Thị Ngọc T1, là chủ nhà nghỉ “Bảo Hân”, do chị T1 không trực tiếp quản lý nhà nghỉ “Bảo Hân” mà giao cho em ruột là anh Lương Trong Q1 quản lý, chị T1 không biết sự việc R giao cấu với cháu T tại nhà nghỉ “Bảo Hân” nên Cơ quan Cảnh sát Công an Quận 8 không xem xét xử lý hình sự là có cơ sở.

Đối với bị can R thực hiện hành vi giao cấu với cháu T khi đang có vợ là chị Phan Nguyễn Huyền T2, nhưng sự việc không dẫn đến ly hôn và R chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 không xử lý R về tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Tô Ngọc R từ 05 năm tù đến 06 năm tù.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng.

Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người liên quan, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Vào các ngày 26/5/2024, 14/6/2024, tại nhà nghỉ “Bảo Hân”, địa chỉ số B, đường B, khu dân cư B, Phường G, Quận H, bị cáo Tô Ngọc R đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Võ Thị Ngọc T (sinh ngày 25/5/2009). Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi giao cấu thì cháu T chưa đủ 16 tuổi.

Hội đồng xét xử xét bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì ham muốn cá nhân của bản thân mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận H đã truy tố là đúng người, đúng tội không oan sai.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em, do đó cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận một phần quan điểm luận tội cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Bị hại và mẹ ruột là Lê Thị Hoài D vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với quần áo thu giữ từ bị cáo và bị hại gồm 01 quần jean ngắn màu xanh; 01 quần lót màu xanh; 01 áo sơ mi màu hồng, sọc xanh; 01 áo thun ngắn tay màu trắng - vàng; 01 áo lót màu đen; 01 quần Jean ngắn màu xanh. Hội đồng xét xử xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 8 Plus, dung lượng 64GB, màu hồng, số IMEI: 356112090246045 thu của bị hại xét cần trả lại cho bị hại.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite 5G NE, dung lượng 128GB, màu đen, số IMEI1: 861783058328666, số IMEI2: 861783058328674 thu của Tô Ngọc R, Hội đồng xét xử xét đây là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với bị hại, phục vụ cho việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Tô Ngọc R 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2024.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần jean ngắn màu xanh; 01 (một) quần lót màu xanh; 01 (một) áo lót màu đen; 01 (một) quần Jean ngắn màu xanh.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite 5G NE, dung lượng 128GB, màu đen, số IMEI1: 861783058328666, số IMEI2: 861783058328674.

Trả lại cho bị hại Võ Thị Ngọc T: 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 8 Plus, dung lượng 64GB, màu hồng, số IMEI: 356112090246045.

(theo biên bản giao nhận tang tài vật ngày 04/6/2025 của Cục thi hành án dân sự Quận 8). bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 20/06/2025. bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận 8;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - CQCSĐT CA TP. HCM;
  • - CQTHA HS CA TP. HCM;
  • - Phân trại tạm giam Khu vực
  • Quận 8 - Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Chi cục THA DS Quận 8;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - PV06;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 133/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA 133 TÔ NGỌC R (145) 19.6.2025
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger